LÒNG NHÂN ÁI TRONG CÔ NHI VIỆN TIN LÀNH NHA TRANG

         Đã là người sinh ra trong cõi trần, ai cũng có tình yêu thương. Bởi nó là bản chất của Đức Chúa Trời đã phú vào con người trong ngày được tạo dựng[1]. Đức Chúa Trời ban cho con người tình yêu thương để con người biết yêu Chúa và yêu người. Chúa Giê-xu cũng đã dạy các môn đồ: “Nếu các ngươi  yêu nhau thì  ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta[2]. Khi còn ở trần gian, Chúa Giê-xu đã thể hiện lòng nhân ái  khi thấy đoàn dân đông thì động lòng thương xót vì họ cùng khốn và tan lạc như chiên không có người chăn[3].  Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đã bày tỏ lòng nhân ái qua việc thực hiện lời Chúa dạy: “ …Chia bánh cho kẻ đói, đem những kẻ nghèo khổ đã bị đuổi đi về nhà mình, khi thấy kẻ trần truồng thì mặc cho”[4].  Năm 1953, Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang chính thức được thành lập và đi vào hoạt động nuôi, dạy trẻ mồ côi từ khắp nơi trên Đất Nước. Nơi đây đã trở thành chiếc nôi nuôi dưỡng và phát triển lòng nhân ái.

Trong bài viết nầy tôi sẽ trình bày về Lòng Nhân Ái nơi Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang, để bày tỏ quan điểm của mình rằng: Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang là nơi gieo trồng lòng nhân ái tốt nhất. Nơi đây không chỉ là nơi đón nhận lòng nhân ái, nhưng cũng là nơi đào tạo và gieo trồng những trái tim cô nhi non nớt được lớn lên trong tình yêu thương, chịu thử thách với  thời gian và mang lại kết quả nhân ái trong cuộc đời. Ngày mai  không thể có một cánh đồng hoa nhân ái, nếu hôm nay không gieo hạt.   

 I/  LÒNG NHÂN ÁI ĐƯỢC GIEO TRỒNG:   

         “Khi hừng đông về em gieo giống, lúa rơi rớt trên đường em đi. Chim kêu đói kiếm ăn loanh quanh.

lúa trên đường giúp chim được no.” Chẳng biết bài hát nầy ai đã sáng tác mà  cô nhi nào vào viện cô nhi

Tin Lành Nha Trang đều thuộc nằm lòng. Lời bài hát đã rơi vào lòng tôi cùng với câu chuyện người gieo giống: “Có một người gieo giống ra đi đặng gieo…”[5].

           “Từ một người” cụm từ thường được dùng trước những chương trình của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời luôn khởi động chương trình của Ngài từ một người. Ngài chọn ai? một người có đức tin, có niềm hy vọng và có tình yêu thương để làm người gieo trồng hạt giống yêu thương của Ngài. Người Ngài chọn chính là Mục sư Lê Văn Thái.

          Trước thực trạng ngày càng có nhiều trẻ em mồ côi do hậu quả chiến tranh, nhất là có nhiều gia đình các tôi tớ Chúa, các tín hữu Tin Lành lâm vào cảnh ly tan con mất cha mẹ, vợ chồng khóc thương nhau. Cảnh trạng đó đã làm trăn trở tấm lòng nhân ái của Mục sư Hội trưởng Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (HTTLVN) Lê Văn Thái.  Ông đã ghi lại trong hồi ký của mình: “Đã có nhiều đêm tôi không thể chợp mắt được khi nghĩ đến những đau khổ, tang tóc  mà con cái, tôi tớ Chúa phải chịu.”[6]

Cần có một nơi để gieo trồng lòng nhân ái. Tình yêu không thể nói suông, bởi quy luật  đạo đức của nó là hành động[7]. Vào năm 1950, Mục Sư Lê Văn Thái chính thức đệ trình lên Tổng Liên Hội HTTLVN về ý định thành lập Cô Nhi Viện Tin lành. Tuy nhiên việc thành lập một cơ quan từ thiện để chăm sóc trẻ mồ côi đâu phải là chuyện chỉ có tấm lòng là đủ. Biết bao là công việc phải làm mà không có đất, không có tài chính, không được sự ủng hộ của đa số tín hữu trong các chi hội.[8] Trước những con số không đó, Mục sư Lê Văn Thái và những người cộng sự đã chuyên lòng cầu nguyện dâng nan đề lên Ba Ngôi Đức Chúa Trời để Ngài mở đường cho công tác từ thiện nầy. Mọi việc được bắt đầu bằng đức tin. Kinh Thánh đã chép: “Vả, Không có đức tin thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài…”[9]. Tất cả mọi việc làm cho Đức Chúa Trời phải đặt nền tảng trên đức tin. Đó là loại công cụ hữu hiệu của người làm công trong vườn Đức Chúa Trời. Mục sư Lê Văn Thái đã làm cho lẽ thật đó trở nên sống động trong lời nói và việc làm của mình. Bằng cặp mắt đức tin ông nhìn thấy những việc chưa có trong hiện tại.[10]

  1. Gieo trong đức tin:

          Không có công tác nào lại không có những trở ngại, việc thành lập Cô Nhi Viện Tin Lành cũng vậy. Có 3 trở ngại chính cho công tác gieo trồng nhân ái cần đi trong đức tin để vượt qua: 1) Về con người. 2) Về cơ sở vật chất và tài chính. 3) Về việc nuôi dạy trẻ mồ côi.

      1/ Về con người:  Lúc ấy đa số tín hữu trong Hội Thánh, một số nhà lãnh đạo Hội Thánh còn có quan điểm rất thiển cận trong công tác xã hội và việc làm từ thiện. Theo quan điểm chung, Hội Thánh chỉ quan tâm đến việc thiêng liêng, chăm lo những công tác thuộc về tâm linh mà thôi chứ chưa có khái niệm về công tác từ thiện xã hội. Trong hồi ký của Mục Sư Lê Văn Thái đã ghi: “Có giáo sĩ đứng giữa nhà thờ Sài Gòn tuyên bố: Chúa Giê- xu không mở nhà trường, không lập Cô Nhi Viện, cũng không lo Chẩn Y Viện. Ngài chỉ giảng Tin Lành.[11]. Để có thể gieo vào lòng các tín hữu về một khái niệm mới mẽ  nầy, cô Lê Thị Hồng Ân (Bà Mục sư Nguyễn Châu Chánh) đã có một loạt bài viết đăng trên  Thánh Kinh báo (nội san của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam).  Đức Chúa Trời đã dùng loạt bài viết nầy cảm động lòng đa số các tín hữu. Chính bài viết “Một Viễn ảnh Cô Nhi Viện Hội Thánh Tin Lành Việt Nam” đã gây xúc động nhiều con cái Chúa[12]. Kết quả mọi người đều thấy thật cần thiết để thành lập một Cô Nhi Viện của Hội Thánh Tin Lành. Hành trình đi gieo nhân ái trong đức tin đã có kết quả bước đầu. Đã có người ủng hộ, việc cần tiếp theo là tìm một địa điểm để xây dựng.

2/ Về cơ sở vật chất và tài chính: Công tác tư tưởng về con người tạm xong. Mục sư Lê Văn Thái và các cộng sự tiếp tục cầu nguyện tìm đất và tài chính để xây dựng Cô Nhi Viện Tin Lành. Tuy hy vọng rất mong manh vì lúc ấy Tổng Liên Hội không có tài chính, mọi người tiếp tục hướng lòng về Đấng tiếp trợ [13] với đức tin kiên định. Năm 1952, Mục sư Lê Văn Thái gặp gỡ Tấn sĩ V.J.R. Mills, phó Hội trưởng Hội Bảo trợ Nhi đồng Tin Lành Quốc tế (gọi tắc là CCF). Sau thời gian bàn bạc đã đi đến thống nhất: Hội Bảo trợ Nhi đồng Tin Lành Quốc tế sẽ tài trợ việc xây cất cơ sở vật chất [14]. Năm 1953, Chúa ban cho một cơ hội thật tuyệt vời. Hội Thánh Tin Lành Việt Nam trước đây có mua một miếng đất hơn 7 mẫu tây tại Hòn Chồng Nha Trang, định dùng để làm trung tâm nghỉ dưỡng cho các người phục vụ Chúa, nhưng đa số không tán đồng vì nó quá xa so với trung tâm Hội Thánh tại Sài Gòn. Vì vậy Hội Thánh đã nhượng lại lô đất nầy cho Cô Nhi Viện. Trong thời gian nầy Chúa lại dự bị một việc lạ lùng ngoài mong đợi. Gia đình Mục sư giáo sĩ  W.C. Cadman cả đời phục vụ cho công cuộc truyền giáo tại Việt Nam. Cả gia đình gồm ông bà và người con gái nhỏ đều qua đời tại Việt Nam. Trong di chúc của mình, ông bà đã để lại toàn bộ di sản tại Việt Nam cho Hội Thánh Tin lành Việt Nam. Sau khi bàn bạc Hội Thánh đã quyết định dùng toàn bộ số tiền nầy cho việc xây dựng Cô Nhi Viện[15]. Công việc Chúa làm thật lạ lùng, chỉ trong ba năm (1950-1953) Cô Nhi Viện Tin Lành từ trong ý tưởng đã được hình thành trong đức tin. Nhưng điều cốt lõi chính là việc nuôi dạy trẻ. Gieo trồng lòng nhân ái trong đời sống trẻ thiếu tình thương không phải là dễ dàng để không tiếp tục bước đi trong đức tin.

3/ Về việc nuôi trẻ mồ côi: Ngày 04/09/1953 Cô Nhi Viện Nha Trang chính thức đi vào hoạt động với  28 cô nhi đợt đầu tiên[16]. Việc nuôi trẻ trong thời kỳ chiến tranh, thiếu thốn tài chính là việc vô cùng nan giải, một bài toán mà Ban Giám đốc Cô Nhi Viện luôn phải tính toan bằng những việc làm của đức tin. Ngoài việc Hội Bảo trợ Nhi đồng Tin Lành Quốc tế sẽ tài trợ việc xây cất cơ sở vật chất, Hội còn trợ cấp 70% số tiền nuôi 50 em mỗi tháng trong thời kỳ đầu, phần còn lại do Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đảm nhiệm. Vấn đề nầy được ghi lại trong biên bản Đại Hội Đồng Tổng Liên Hội lần thứ VII. Tại Sài Gòn vào ngày 25-28/1952 [17]. Nhưng mỗi năm số trẻ mồ côi nhận vào viện tăng lên không ngừng. Để có đủ tài chính, Ban giám đốc đã tận dụng những phần đất còn trống rất nhiều để trồng trọt, chăn nuôi, nhằm góp thêm phần tài chính cho công tác nuôi dạy trẻ, làm tiền đề cho sự phát triển lâu dài của công tác nhân ái nầy.

          Phải nói rằng để thực hiện công tác của lòng nhân ái nầy phải trải qua thật nhiều gian nan, thách thức. Nhưng trong sự dẫn dắt kỳ diệu của Đấng đầy lòng nhân ái mọi việc đã thành công tốt đẹp. Tuy nhiên như đã nói Cô Nhi Viện đâu chỉ là nơi tiếp nhận lòng bố thí, mà còn là nơi ban ra lòng nhân ái. Làm sao có thể thực hiện được mong ước này ? Điều nầy chỉ có thể bước đi trong niềm hy vọng nơi lời hứa của Chúa mà thôi.

B.  Gieo trong hy vọng:

          Điều người gieo giống mong đợi trong hy vọng là kết quả [18], Không ai muốn thấy kết quả mà không hy vọng, cũng không ai hy vọng kết quả mà không làm việc. Ban Giám đốc Cô Nhi Viện  cứ nương trong lời Chúa làm phương châm cho hành động của mình. Lời Chúa qua Sứ Đồ Phao Lô đã viết: “Hãy chú ý làm cho trổi hơn về việc nhơn đức nầy” [19].  Từ năm 1953 với số cô nhi ban đầu là 28 em. Số lượng cô nhi tăng lên theo từng năm cho đến năm 1963 sau 10 năm là 253 em. Năm 1973, sau 20 năm  là 350 em. Tổng số cô nhi vào viện từ năm 1953 đến 1975 là 875 em [20]. Với số lượng cô nhi như vậy trong suốt 23 năm, trong hoàn cảnh chiến tranh và thiếu thốn là một áp lực không nhỏ đối với Ban Giám đốc điều hành Cô Nhi Viện. Nhưng điều quan trọng hơn là làm sao nuôi dưỡng các em nầy từ một con người thiếu thốn tình yêu trở thành một người có đầy lòng nhân ái? Những cảnh đời cô nhi chẳng khác gì một mảnh đất khô cằn, đầy sỏi đá và gai góc. Gieo nhân ái vào trong đất đó thì luống công thay. Tạ ơn Chúa thúc đẩy những con người sẵn lòng dấn thân làm việc vì một tương lai đầy hy vọng để cải tạo những mảnh đất khô cằn tình yêu trở nên màu mỡ lòng nhân ái. Để cánh hoa nhân ái được nở ra đẹp đẽ trong lòng mỗi cô nhi, những người gieo trồng lòng nhân ái đã thực hiện các công tác song song:

 1/ Phát triển thể chất: Xây cất 11 phòng ở, 1 phòng ăn, các nơi vui chơi giải trí, hội trường, và các công trường lao động để các em ăn, ở, lao động, vui chơi.

 2/ Phát triển trí tuệ: Mở trường trung tiểu học Bết Lê Hem cho các em  học tập.

 3/ Phát triển nghề nghiệp: Mở các lớp đào tạo huấn nghệ.

 4/ Phát triển tâm linh: Xây cất nhà thờ cho các em thờ phượng, học KinhThánh.

          Với những công tác như vậy chúng ta có quyền hy vọng về một tương lai tốt đẹp cho mỗi cuộc đời cô nhi.

Tôi tự hỏi:  Điều gì đã thúc đẩy MS Lê văn Thái dấn thân vào chương trình lớn lao nầy? Câu trả lời chỉ có thể là: Đó là tình yêu thương.         

        C.  Gieo trong tình yêu:

          Ai đã từng được chính tay ông Giám đốc ôm vào lòng, được tận tay những nhân viên chăm sóc từng miếng ăn, áo mặc, giấc ngủ mới cảm nhận được sự ấm áp biết bao trong hoàn cảnh mồ côi. Vào viện một thời gian, chúng tôi quên mất cảnh mồ côi của mình. Vết thương lòng về hoàn cảnh được xoa dịu trong tâm hồn những cô nhi bạc phước. Vì sao vậy? Hạt nhân ái được gieo vào lòng  cô nhi đã khỏa lấp những khoảng trống tình yêu.  Những cô nhi thơ bé có hiểu biết  tình yêu của Đức Chúa Trời là thế nào đâu, nhưng các em đã thấy những sự ân cần giúp đỡ của Ban giám đốc, thầy cô, và các nhân viên đầy lòng yêu thương. Mọi mặc cảm, cô đơn, thiếu thốn tình yêu trong các em hoàn toàn biến mất. Thay vào đó là sự hồn nhiên, trong sáng. Các em vô tư sống trong một đại gia đình tràn đầy tình yêu. Những giờ học Kinh Thánh về tình yêu Chúa sẽ không lưu lại ấn tượng trong các cô nhi nếu thiếu sự chăm sóc ân cần của Ban Giám đốc và các thầy cô, nhân viên của viện. Cho đến tận hôm nay  đã qua một thời thơ ấu, những cô nhi không còn nhớ được mặt nhau. Tuy nhiên khi một người nào nhắc đến những chữ “Tôi là cô nhi Tin Lành Nha Trang” thì lập tức như có một sợi dây yêu thương nồng nàn, ấm áp gắn kết họ lại với nhau. Không một ai đã từng ở Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang mà không có cảm giác nầy.  Từ một mảnh đất khô cằn của một tâm hồn bị tổn thương, lòng nhân ái đã nẩy mầm, vươn lên đón nắng mới trong khoảng trời xanh đầy hy vọng và yêu thương.  

Thế nhưng! Trời đang nắng bổng mây đen vần vũ và mưa giông ập đến. Đó là cảnh trạng mà mảnh vườn nhân ái của những cô nhi nhỏ bé phải gồng mình trong cơn thử thách.         

II/ LÒNG NHÂN ÁI BỊ THỬ THÁCH:

        Thử thách là một điều rất khó chịu trong cuộc sống. Tuy nhiên trong khía cạnh tích cực nó lại làm cho đối tượng bị thử thách được vững vàng hơn. [21] Điều đó cũng không ngoại lệ đối với hạt giống nhân ái trong lòng các cô nhi, giống như "Lữa thử vàng, gian nan thử sức" [22]

                          A.Thử thách từ hoàn cảnh chính trị:

          Đang khi các cô nhi được sống trong vòng tay yêu thương của Chúa và Hội Thánh, lòng nhân ái đã dần châm rễ trong tâm hồn trẻ thơ ấy. Thì một sự kiện chính trị đã làm thay đổi hoàn cảnh Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang. Ngày 30/04/1975 đất nước bước sang trang sử mới. Lịch sử Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang cũng mở sang trang mới. Cô nhi viện mất nguồn tài trợ, và bị giải tán năm 1978. Một lần nữa những cánh chim mồ côi lại bị thương bởi cuộc đời nghiệt ngã, bay tứ tán khắp mọi phương trời. Tôi biết có nhiều người khi rời khỏi viện cũng không có một nơi sống yên ổn, phải tha phương cầu thực, lang bạt kiếm sống, vất vả cơ cực biết chừng nào. Tôi có một người anh, hai anh em khi rời viện trong hoàn cảnh má bị bại liệt, anh em lại một lần nữa khóc chia ly mỗi đứa một phương sống nhờ vào lòng thương của bà con. Những hạt giống của lòng nhân ái tưởng chừng bị rơi xuống vùng đất cứng, đầy sỏi đá và gai góc. Tôi tưởng như bao công khó gieo nhân ái vào đời trẻ thơ mồ côi lại trở về số không trong hoàn cảnh chính trị khó khăn; Nhưng không! Dù hoàn cảnh có khắc nghiệt đến đâu thì cũng không làm chết đi lòng nhân ái đã được gieo vào tấm lòng con trẻ. Như chúng ta đã biết lòng con trẻ như một tờ giấy trắng, những gì đã ghi vào thì không bao giờ phai mờ. Hạt nhân ái đã gieo vào tâm hồn ấy cũng như vậy cho dù hoàn cảnh có đổi thay. Chúng ta sẽ thấy những kết quả đó trong các chương sau.

          Nhưng có một điều đã thay đổi trong hoàn cảnh chính trị, đó là đời sống xã hội. Lòng nhân ái từ nơi Cô nhi viện Tin Lành sẽ thế nào trong hoàn cảnh xã hội thay đổi?

                       B. Thử thách từ hoàn cảnh xã hội:

 Từ năm 1975 đến cuối năm 1978. Ngoài những cô nhi đã được người thân đưa về nhà, một số lớn cô nhi còn lưu lại Cô Nhi Viện trong hoàn cảnh không còn nguồn tài trợ nào. Trong một cuộc phỏng vấn mới đây với Cô Truyền Đạo Nguyễn Thị Bình người đã cùng Mục sư Đặng Đệ  trực tiếp lãnh đạo cô nhi trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn ấy. Cô cho tôi biết: Không có một nguồn tài trợ nào, Cô Nhi Viện phải tự túc lo miếng cơm manh áo cho những em còn ở lại bằng cách bán các vật dụng, bột mì trong kho, cây trái trong khuôn viên viện. Các em lớn thì nuôi heo, trồng khoai, làm bánh đem ra chợ bán để đổi lấy thực phẩm.[23] Tuy khó khăn cơ cực, nhưng lòng nhân ái trong cô nhi vẫn nồng nàn, các em cùng chung nhau sẻ chia những khó khăn cơ cực. Sau khi Cô Nhi Viện bị giải thể cuối năm 1978, ai nấy dù muốn dù không cũng phải rời viện. Trong khi ai nấy chật vật lo cho cuộc sống mình đủ ăn đủ mặc. Những cô nhi bị ném trả vào trong xã hội vẫn âm thầm phát triển lòng nhân ái. Cô Nguyễn Thị Bình và các cô nhi khác vẫn tìm cách liên lạc với nhau để giúp đỡ cho nhau những khó khăn cuộc sống. Nhìn vào cuộc sống của xã hội trong thời gian nầy, có thể nhận thấy, lòng nhân ái là một loại xa xỉ, vì ai nấy phải tranh thủ trong khó khăn, chật vật lo cho cuộc sống mình được ăn no, mặc ấm. Các cô nhi trở về với gia đình, cảnh nghèo khổ càng thêm gánh nặng. Để tồn tại trong hoàn cảnh đó phải làm đủ thứ việc.  Xã hội thời kỳ bao cấp đề cao một chuẩn mực mới: Lao động là vinh quang. Nhà nhà lao động, người người lao động. Lao động ngày, lao động cả đêm. Buông tay là rã rời, còn đâu nghỉ đến lòng nhân ái cho ai. Xã hội lao động đã sản sinh một thế hệ con người mới: Vô cảm. Trong bối cảnh xã hội như vậy liệu các cô nhi có vượt qua thử thách nầy để còn giữ mãi hạt mầm nhân ái? Cũng có những em chịu không nỗi thử thách đã bỏ đi niềm tin của mình để lao vào cuộc sống mưu sinh.    

      "Bần cùng sanh đạo tặc" [24]. Câu thành ngữ thật đúng trong một hoàn cảnh xã hội đói nghèo. Những cuộc đời mồ côi khi về với gia đình, lại bị đùa đi giữa sóng gió và bão tố cuộc đời. Hoàn cảnh xã hội thời bao cấp thật nghiệt ngã. Mạnh ai nấy sống, lọc lừa, bon chen, tranh giành, đủ mọi thứ thủ đoạn mánh khóe được tung ra để  có thể sinh tồn. Đời cô nhi cũng bị cuốn vào vòng xoáy đó. Trong một xã hội đề cao tinh thần bạo lực, mạnh được yếu thua. Xã hội lúc bấy giờ chỉ có một thứ đạo đức: Đạo đức của kẻ có quyền. Loại đạo đức tâm linh bị dìm xuống cùng cực.

                      C. Thử thách từ hoàn cảnh đạo đức:

      Có một loại cây không sợ thời tiết khắc nghiệt mà cứ xanh tươi và ra trái không dứt [25]. Tôi cho đó là cây nhân ái. Trong những tháng năm còn ở trong Cô Nhi Viện, song song với việc nuôi ăn, lo cho học tập. Các Thầy cô, nhân viên còn rất chú trọng đến vấn đề đạo đức của các cô nhi. Mỗi sáng sớm, chiều tối các cô nhi được dạy cầu nguyện. Thú thật lúc ấy việc nầy được xem như một cực hình, nhưng rồi thói quen ấy cũng hình thành trong lòng các cô nhi, những câu gốc bằng tranh hình được tặng cho những em có thành tích học tập ngoan, cũng khiến chúng tôi thi đua học Kinh Thánh dù lúc ấy việc học chỉ cốt để lấy được hình. Cho đến bây giờ dù đã hơn 50 năm qua, nhưng những gì học được trong thời gian ấy vẫn luôn ghi đậm trong lòng tôi.

     Lúc ấy dù được ăn no đủ, nhưng bọn cô nhi vẫn như người đói ăn lắm, thứ gì tìm được là ăn, cơm cháy dành cho heo cũng ăn, sữa bột bị hư vứt xuống hồ cá, nổi có cục cũng vớt lên ăn không chừa thứ chi. Tuy nhiên có một thứ mà cô nhi không bao giờ thèm: Đó là đồ cúng. Cổng phía tây của Cô Nhi Viện có một nghĩa địa trên đồi, ngày nào cũng có đồ cúng, bọn con trai trốn viện lên lấy sáp đèn cầy về làm lồng đèn chứ không bao giờ rớ vào các món đồ cúng. Tinh thần “thà ăn đồ dơ chứ không ăn đồ cúng” của cô nhi Tin Lành Nha Trang  được trân trọng giữ gìn như một thứ của báu giấu kín trong cả cuộc đời cô nhi. Đó là thành quả của công tác gieo lời Chúa vào lòng cô nhi. Không thể cho là tất cả, có những cô nhi đã không cưởng lại nổi những cám dỗ để bỏ đi hai chữ Tin Lành chẳng những trong giấy tờ mà cả trong niềm tin, tuy nhiên đó chỉ là số ít. Phần đông đều còn giữ đức tin vững vàng.  Khi gặp lại nhau sau bao năm chia ly, câu hỏi được đặt lên hàng đầu khi hỏi thăm về nhau là: “đức tin thế nào?”, và câu trả lời bao giờ cũng là nụ cười tươi và câu: “Cảm ơn Chúa” .  Vì vậy dù cho đời sống xã hội có thay đổi, đạo đức bị xem nhẹ, nhưng đa số vẫn giữ được đức tin.           

          Bây giờ trải qua những thăng trầm cuộc đời, đất nước đang vào thời kỳ đổi mới, những cô nhi ngày xưa bây giờ đã là những trung niên dày dạn kinh nghiệm sống. Nhiều người đã trở thành những nhà lãnh đạo thuộc linh trong HTTLVN, nhiều người hoạt động trong các chi hội trong chức vị chấp sự, họ là những doanh nhân, những người thành đạt trong xã hội. Lòng nhân ái trong họ đã phôi phai hay đã trở thành bóng mát cho những cuộc đời bất hạnh? Bây giờ đã đến lúc người gieo giống mỉm cười sau những năm tháng đổ nhiều mồ hôi và nước mắt.

III/ LÒNG NHÂN ÁI ĐƯỢC KẾT QUẢ:

Khi nghỉ đến điều nầy, trong tâm trí tôi văng vẳng  lời bài hát phỏng theo ý của thi thiên 126:5-6. "Người gieo trong nước mắt sẽ về gặt giữa ca mừng..." Khi người gieo giống cần cù trên mảnh đất hoang ít người để ý đến. Họ không buồn vì họ tin rằng rồi đây trên mảnh đất hoang đó những cánh hoa nhân ái sẽ nở rộ.

                      A. Kết quả trong mỗi cá nhân:

          Mỗi cô nhi là một cây nhân ái. Đúng không? Tôi xin đơn cử một câu chuyện: Sau khi đi dự lễ kỷ niệm 60 năm thành lập Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang vừa về đến nhà, tôi nhận được một cú điện thoại từ một số máy lạ. Bạn nầy cho biết mình cũng là một cựu cô nhi. Bạn kể, ngay sau khi nhận được tập kỷ yếu của Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang đã tìm  ngay một cái tên mà bạn không thể quên sau bao nhiêu năm; đó là tôi: Đinh Hoàng Hải. Bạn kể: “Lúc ở cô nhi, lên 5,6 tuổi gì đó em bị cảm sốt nằm mẹp trên giường phòng số 10. Tất cả các bạn đều ra chơi. Anh đã đến bên em hỏi thăm, chơi với em,  rồi dắt em đi băng qua chẩn y viện để khám bệnh, xin thuốc. Em không quên hình ảnh anh dắt tay em, hai anh em cùng đi từ từ, em lũng đũng theo anh…” Tôi không thể nhớ, vì lúc tôi ra viện tôi mới 11 tuổi, nhưng tôi lại không quên cũng hình ảnh dắt nhau đó nhưng là cụ Mục Sư Lê văn Thái dắt tay tôi xuống phòng ăn những ngày tôi mới vào viện còn bỡ ngỡ. Có lẽ cử chỉ nhân ái của cụ đã ăn vào tâm thức tôi, và tôi đã bày tỏ điều đó ra cho bạn. Tôi thầm nghỉ  À thì ra lòng nhân ái trong mỗi cuộc đời cô nhi cũng đã kết quả từ rất sớm.

          Từ sau khi giải tán Cô Nhi Viện, dầu gặp rất nhiều khó khăn trong đời sống kinh tế, nhưng các cô nhi vẫn luôn quan tâm đến nhau, nghe ngóng tin tức từng cô nhi, viết thư gọi điện động viên, thăm hỏi nhau. Khi nghe tin một cô nhi gặp khó khăn trong cuộc sống, hay bệnh tật thì dầu xa xôi, dầu thiếu thốn anh em vẫn gom góp chút tiền ít oi để hỗ trợ, thăm viếng, an ủi nhau vượt qua khốn khó. Mãi sau nầy tôi mới biết được chị Nguyễn Thị Bình là một trong những người đã tạo nên gạnh nối giữa các cô nhi với nhau. Lúc đó chị đã là một Nữ truyền đạo của Hội Thánh Tin lành Việt Nam. Dầu gặp khó khăn trong đời sống, nhiều khi không có tiền, nhưng hễ nghe một cô nhi lâm vào cảnh khốn khó là chị bằng mọi cách tìm đến thăm, chia sẻ quyên góp để giúp đỡ. [26] Điều gì đã làm cho những người cô nhi đi ngược lại với thói đời (bây chết mặc bây, tiền thầy thầy bỏ túi)? Đó là vì họ đã nhận lãnh lòng nhân ái, họ phải cho đi lòng nhân ái. [27] Hay nói cách khác, lòng nhân ái đã gieo vào đời họ, giờ đây đã kết quả trong cuộc đời mỗi cô nhi. Mỗi một cây nhân ái cùng đứng chung trong một khu đất sẽ thành một rừng cây nhân ái. Mỗi cuộc đời nhân ái tập hợp trong một cộng đồng sẽ thành một cộng đồng nhân ái. Đó là cộng đồng cựu cô nhi Tin Lành Nha Trang.

                       B. Kết quả trong cộng đồng Cựu Cô Nhi:

            Nhớ ơn những người đã chia sẻ lòng nhân ái với mình, những cựu cô nhi năm xưa giờ thành đạt trong cuộc sống, bây giờ họp lại thành một cộng đồng cựu cô nhi, mục đích của họ là “Đem đời cô nhi xóa tấm lòng cô nhi.”[28]

        Năm 2011 lần đầu tiên sau 33 năm chia xa, các cựu cô nhi đã liên lạc với nhau nắm thông tin của từng cá nhân cư ngụ từ Quảng Trị cho đến Cà Mau. Họ đã tổ chức buổi họp mặt lần đầu tiên tại Đà Nẵng trong dịp HTTLVN tổ chức kỷ niệm 100 năm thành lập. Trong dịp nầy anh em cựu cô nhi đã thống nhất đi đến việc tổ chức một chương trình  họp mặt thông công để bầu ra một Ban đại diện Cựu Cô nhi Tin Lành Nha Trang. Sau khi ban đại diện được thành lập đã thống nhất tổ chức kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Cô nhi viện Tin Lành Nha Trang. Để tiện trong việc trao đổi thông tin, liên lạc.  Ban đại diện cựu cô nhi quyết định lập một trang website riêng của cựu cô nhi. Trong cộng đồng cựu cô nhi có những người đau ốm, tai nạn, nghèo khó đều được các cựu cô nhi thông báo cho nhau và vận động quyên góp giúp đỡ thiết thực, nhờ đó nhiều cảnh đời cô nhi vượt qua được sóng gió cuộc đời. Trong một bài cảm nhận của Vũ Hướng Dương trước ngày kỷ niệm 60 năm thành lập Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang, anh đã viết:

           Nếu các anh chị em cựu cô nhi làm được việc này thì sự họp mặt của chúng ta ngày càng có  ý nghĩa;  không chỉ gói gọn trong việc bao nhiêu người có con đám cưới, bao nhiêu người đau ốm, bao nhiêu người đã ra đi… mà còn có cơ hội tổng kết được các việc chúng ta đã làm, mở được bao nhiêu điểm nuôi trẻ mồ côi, thăm được bao nhiêu gia đình trẻ mồ côi, hỗ trợ được bao nhiêu suất học bỗng cho các em, bao nhiêu  em đã thật sự gặp Chúa và đang hầu việc Chúa sốt sắng…  Và mỗi năm, số lượng này càng được tăng lên, các em cô nhi mới lại được có cơ hội nhìn thấy được những tấm gương Yêu thương của các bậc cha chú đi trước. Tôi nghĩ nếu gieo hôm nay, chắc chắn sẽ có ngày gặt hái. Một định hướng cho tương lai rất cần để có sự kết nối, phát triển cho những hoạt động của đoàn Cô nhi Tin Lành Nha Trang.

          Biết  ơn Chúa, biết ơn tiền nhân, không để cho những nổ  lực của các bậc đi trước hao mòn theo năm  tháng. Thiết nghĩ, các anh chị em cựu cô nhi sẽ có  những việc làm thiết thực, thể hiện cụ thể  lòng biết ơn  ấy, để mỗi ngày trôi qua, có thêm nhiều em cô nhi được quan tâm, chăm sóc và được biết về Chúa, giống  như chúng ta ngày trước. Mong rằng, những cuộc gặp mặt các anh chị em cựu cô nhi ngày càng vui, càng  phước hạnh và có ý nghĩa. [29] 

          Trong kinh nghiệm của các cựu cô nhi thì mồ côi trong thể xác không nghiêm trọng bằng mồ côi trong tâm hồn và tâm linh. Vì vậy cộng đồng Cựu cô nhi mong đem cuộc đời cô nhi  của mình với bao nhân ái để xóa tan những tấm lòng cô nhi tức là những cuộc đời không có Chúa là Cha nhân từ trong tâm linh mình. 

          Thật vậy hoạt động của các cựu cô nhi không đơn thuần dành cho các cựu cô nhi, nhưng còn phát triển ra ngoài cộng đồng đến với Hội Thánh và xã hội. Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đã khai sanh Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang. Giờ đây những cựu cô nhi Tin Lành cùng bắt tay phục vụ trong Hội Thánh Tin Lành Việt Nam.

                       C.  Kết quả trong cộng đồng Hội Thánh:

          Những cựu cô nhi năm xưa bây giờ đã vào lứa tuổi trung niên. Đa số họ là những thành viên trong Hội thánh của Đức Chúa Trời. Có người là Mục sư quản nhiệm chi hội Hội Thánh Tin Lành, nhiều người là các chức viên, ban chấp sự trong các chi hội. Họ là những hạt nhân trong các kế hoạch nhân đạo của Hội Thánh. Các cựu cô nhi đã cùng với ban lãnh đạo các Hội Thánh thực hiện nhiều công tác từ thiện.

          Trong bảng tổng kết chương trình hỗ trợ học bổng dành cho các sinh viên, học sinh nghèo học giỏi năm 2012 đăng trên tạp chí sống đạo đã ghi nhận:

- Năm 2006 hỗ trợ học bổng 107.600.000 VND (112 em)

- Năm 2007 hỗ trợ học bổng 109.030.000 VND (145 em)

- Năm 2008 hỗ trợ học bổng 232.900.000 VND (297 em)

- Năm 2009 hỗ trợ học bổng 361.700.000 VND (302 em)

- Năm 2010 hỗ trợ học bổng 449.700.000 VND (365 em)

- Năm 2011 hỗ trợ học bổng 605.600.000 VND (408 em)

- Năm 2012 hỗ trợ học bổng 672.600.000 VND (471 em)

          Tổng cộng: từ năm 2006 đến 2012 đã thực hiện chương trình hỗ trợ học bổng với số tiền là: 2.539.130.000 VND (Hai tỉ, năm trăm ba mươi chín triệu, một trăm ba mươi ngàn đồng)

          Số em: 2.100 em (Hai ngàn một trăm em) [30]

           Đây là chương trình hoạt động từ thiện của  cựu cô nhi Phan Thanh, một doanh nhân thành đạt tại Thành phố Hồ Chí Minh kết hợp cùng với một số doanh nhân yêu mến Chúa tại miền trung. Trongsuốt 7 năm từ năm 2006- 2012 chương trình đã hỗ trợ tổng số tiền trên 2 tỉ 539 triệu cho 2.100 em học sinh của 20 tỉnh thành miền nam Việt Nam. Ngoài ra nhóm của Cựu cô nhi Phan Thanh cũng hỗ trợ rất nhiều chương trình khác thông qua ban đại diện Tin Lành các tỉnh thành như: Hỗ trợ đồng bào bị Thiên tai bão lụt, Chương trình nồi cháo tình thương tại các bệnh viện khu vực Miền Trung. Hỗ trợ xây dựng nhà thờ, nhà nguyện tại khu vực Miền Trung. [31]

           Tại điểm nhóm Thạnh Phú thuộc Tỉnh Bến Tre, cựu cô nhi Đinh Hoàng Hải đã phát động Hội Thánh tại đây thực hiện chương trình “Lá rách đùm lá nát” cất nhà tình thương cho các tín hữu nghèo. Chương trình đã thực hiện đến năm thứ ba.[32] Còn rất nhiều tấm lòng nhân ái từ các cựu cô nhi mà trong khuôn khổ bài viết không thể kể ra hết.

           Qua những điều dẫn chứng trên chúng ta một lần nữa có thể khẳng định Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang  không phải chỉ là nơi tiếp nhận sự bố thí từ những tấm lòng nhân ái, nhưng từ nơi đó hạt giống nhân ái từ một con người đã ảnh hưởng đến một tổ chức, ảnh hưởng đến cộng đồng. Công tác gieo trồng lòng nhân ái nơi Cô Nhi Viện Tin lành Nha Trang đã trải qua nhiều thách thức, nhưng cuối cùng cũng đã kết quả “một hột ra được một trăm, hoặc một hột sáu chục, hoặc một hột ba chục…”[33]

                                                          KẾT LUẬN

Dầu hiện nay về hình thức, Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang không còn nữa, nhưng Tinh thần của Cô Nhi Viện Tin lành Nha Trang vẫn còn mãi. Hạt giống nhân ái đã gieo vào mảnh đất Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang, dầu lao nhọc và đầy thử thách nhưng rốt cùng cũng đem lại kết quả mỹ mãn làm vinh hiển cho Danh Chúa. Thật đúng như vậy từ một người được nung nấu bởi đức tin, hy vọng và tình yêu chan chứa trong lòng, vâng theo lời Chúa đi gieo trồng lòng nhân ái đã sản sinh ra một cánh đồng nhân ái, cho dù mưa nắng cuộc đời nghiệt ngã đến đâu, thử thách từ mọi phía có khốc liệt thế nào, nhưng lòng nhân ái cứ phát triển không ngừng, do cánh tay chăm sóc diệu kỳ của Đấng Christ là nguồn cội của sự yêu thương, bảo vệ và chăm sóc từng cánh chim côi cút bé nhỏ trong Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang. Không nơi nào dễ ươm mầm lòng nhân ái cho bằng từ  những cuộc đời thiếu vắng yêu thương.

          Trong xã  hội chúng ta còn biết bao nhiêu người mồ côi, họ không mồ côi cha mẹ, nhưng mồ côi vì không có Đức Chúa Trời. Sự mồ côi nầy còn khủng khiếp hơn biết bao nhiêu. Họ sẽ thiếu thốn tình yêu Chúa cho đến cõi đời đời. Vâng lời Chúa dạy mỗi chúng ta hãy trở thành Người Samari nhân lành, đem tình yêu Chúa xóa tan  vết thương lòng cho bao người còn mồ côi tâm linh. Đem lòng nhân ái của Chúa trong ta tiếp tục gieo tình yêu của Chúa vào  lòng những người đang ngày đêm bị đùa đến sự chết và chốn hình khổ. [34] Để rồi từ những cuộc đời được Chúa cứu bởi lòng thương xót đó, họ sẽ tiếp nối ra đi gieo tình yêu Chúa đến với mọi lòng thiếu vắng tình thương.

Chúa luôn nhắc nhở mỗi chúng ta: “Các ngươi hãy yêu  nhau vì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ Ta." [35]

            [1] Châm ngôn 24:11                                                           Cựu cô nhi Đinh Hoàng Hải

          Tác giả bài viết

Viết ý kiến

Tên bạn:


Ý kiến của bạn: Lưu ý: không hỗ trợ HTML!

Bình chọn: Xấu            Tốt

Nhập mã kiểm tra vào ô bên dưới:



Tin khác: