LƯỢC SỬ CÔ NHI VIỆN TIN LÀNH NHA TRANG

KỶ NIỆM 60 NĂM THÀNH LẬP (1953 – 2013)

I. MỞ ĐẦU:

Lời Kinh Thánh chép: “Sự tin đạo thuần khiết, không hoen ố trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta là thăm viếng kẻ mồ côi, người góa bụa trong cơn hoạn nạn của họ và giữ mình khỏi sự ô uế của thế gian” (Gia cơ 1: 27) và “Ai giữ theo đạo lý tìm được ích lợi và ai trông cậy nơi Đức Giê-hô-va thật phước biết bao!” (Châm ngôn 16: 20). Đây là 2 câu Kinh Thánh làm nền tảng cho việc hình thành Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang được đúc kết bởi 2 chữ: NHƠN ĐỨC. Vì chính Sứ đồ Phao-lô đã viết trong thư gửi cho Hội Thánh Côrinhtô: “Vậy thì, như anh em đã vượt trội trong mọi việc: đức tin, lời nói, tri thức, lòng nhiệt thành và tình yêu thương đối với chúng tôi thì anh em cũng nên vượt trội trong việc từ thiện này. Tôi nói điều này không phải để ra lệnh cho anh em đâu, nhưng tôi chỉ nêu lên lòng nhiệt thành của những người khác để xem lòng yêu thương của anh em chân thành đến mức nào. Vì anh em biết ân điển của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ, Ngài vốn giàu nhưng đã trở nên nghèo vì anh em, để bởi sự nghèo khó của Ngài, anh em trở nên giàu có” (II Côrinhtô 8: 7-9). Những lời này đã thúc đẩy Hội Thánh giúp đỡ những người nghèo khổ, mồ côi và góa bụa, những lời thiết tha kêu gọi thực hành lòng nhơn đức ấy dường như đã vang dội giữa Hội Thánh chúng ta ngày nay, những người nghèo khổ và trẻ em mồ côi đương chờ đợi lòng yêu thương và việc nhơn đức của chúng ta trong Đấng Christ.

Nói đến 3 chữ “Cô Nhi Viện”, thì theo Tự điển Bách khoa Toàn thư Mở Wikipedia định nghĩa như sau: là nơi được xây dựng lên nhằm mục đích cho việc thu nhận, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục tập trung dành cho trẻ mồ côi, là những trẻ em có cha mẹ đã chết hoặc không có đủ điều kiện, khả năng chăm sóc cho những trẻ này. Đây là một trong những phúc lợi xã hội, chính sách an sinh, thiện nguyện xã hội của mỗi quốc gia. Nhưng nói đến Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang không phải chỉ là nơi hoạt động từ thiện xã hội mà còn là nơi thực hành tình yêu thương và lòng nhân ái theo lời Chúa dạy: “Kính mến Chúa và yêu kẻ lân cận như mình”. Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang được thành lập để giúp đỡ cho một số trẻ em không cha không mẹ đương bơ vơ giữa xã hội, thiếu tình thương và thiếu những bàn tay dịu hiền chăm sóc; không phân biệt tôn giáo, màu da hay chủng tộc nhưng do chỉ bởi tình thương của Cứu Chúa, Cha chúng ta. Bởi tình thương đó, một số người đã đưa bàn tay của lòng nhân ái ra sắp liền lại thành những mái nhà làm nơi trú ẩn cho trẻ em bơ vơ thiếu cha thiếu mẹ, không nơi nương tựa; và cũng bởi tình thương đó đã có những người sẵn sàng tình nguyện đến sống với các em trong tinh thần hàn gắn lại những vết thương đau, xoa dịu lại những niềm cô đơn, đau xót và tủi phận. Không những như thế, Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang là nơi hướng dẫn, dạy dỗ niềm tin yêu mến Chúa ngay từ lúc còn ấu thơ theo như Lời Chúa dạy: “Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo, dẫu khi nó trở về già cũng không hề lìa khỏi nó.” (Châm ngôn 22: 6). Công việc cứu tế xã hội, thương người nghèo khổ, giúp kẻ mồ côi và người góa bụa vì lòng kính mến Chúa và yêu thương người được Chúa kể đó là làm cho Chúa: “Quả thật, ta nói cùng các ngươi: hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn này của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta nữa” (Mathiơ 25: 40).

Nhân lễ kỷ niệm 60 năm thành lập Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang (1953– 2013), Đoàn Cựu Cô Nhi Tin Lành Nha Trang viết lại: LƯỢC SỬ CÔ NHI VIỆN TIN LÀNH NHA TRANG nhằm mục đích và ý nghĩa:

- Tôn vinh và tạ ơn Đức Chúa Trời là Cha của kẻ mồ côi.

- Tri ân các bậc tiền nhân lãnh đạo Cô Nhi Viện và quý thầy cô, quý nhân viên đã có công kiến lập và nuôi dưỡng Đoàn cựu cô nhi suốt 25 năm qua (1953–1978).

- Bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với quý ân nhân xa gần, các cơ quan từ thiện xã hội vào thời điểm đó đã đóng góp tiền của, tặng phẩm cho Đoàn cô nhi được tồn tại.

- Giáo dục và nhắc nhở Đoàn cựu cô nhi hôm nay cũng như thế hệ con cháu rằng: “Và đối với anh em, đó sẽ như một dấu ấn trên tay, một kỷ niệm giữa hai mắt để cho luật pháp của Đức Giê-hô-va ở trên miệng anh em; vì Đức Giê-hô-va đã dùng cánh tay quyền năng đem anh em ra khỏi Ai Cập.” (Xuất Ê-díp-tô ký 13: 9).

Bài Lược sử này được sưu tầm, tổng hợp và biên tập lại dựa trên các nguồn tư liệu tham khảo được trích dẫn từ:

- Bài viết Lược sử Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang do Cô Hoàng Thị Kim Anh, Cô Trần Thị Phấn, MS. Lưu Văn Giáo và phần ghi âm đối thoại trực tiếp của Cô TĐ. Nguyễn Thị Bình.

- Các cuốn tư liệu Kỷ niệm Cô Nhi Viện 5 tuổi, 10 tuổi và 20 tuổi.

- Cuốn Hồi ký 46 năm chức vụ của MS. Lê Văn Thái.

- Các văn thư lưu trữ của Tổng Liên hội HTTLVN vào thời kỳ đó.

- Tư liệu 100 năm Tin lành đến Việt Nam trên trang website hoithanh.com

- Lịch sử HTTL VN (1911–1965) của MS. TS. Lê Hoàng Phu.

- Các hoạt động của Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang được đăng trên Thánh Kinh Báo và Thánh Kinh Nguyệt San, cơ quan ngôn luận của HTTL VN vào thời kỳ đó.

 

- Các nguồn tư liệu bổ sung và có liên quan đến Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang được trích dẫn từ Tự điển Bách khoa Toàn thư Mở Wikipedia.

- Cuốn 100 năm Tin lành Việt Nam, chặng đường hình thành, xây dựng và phát triển (1911–2011) của MS. Thái Phước Trường.

II. CÁC CHẶNG ĐƯỜNG HÌNH THÀNH, XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN:

Sau khi HTTL VN có hơn 40.000 tín đồ chịu phép Báp-têm và hơn 100 gia đình MS-TĐ hoạt động rải rác trong toàn cõi Việt Nam thì vấn đề tổ chức Hội Thánh không chỉ đơn thuần trong phạm vi truyền giáo mà bao gồm nhiều lĩnh vực khác nữa như: văn hóa, giáo dục và xã hội để giúp đỡ và nâng cao đời sống tín hữu. Nói như thế không có nghĩa việc rao truyền Tin Lành bị xếp thành thứ yếu, trái lại mọi công tác khác đều hỗ trợ cho công cuộc truyền giáo để Lời Chúa sớm được mọi người Việt Nam nhận biết. Việc thiết lập những chương trình cho những mục tiêu cấp bách và nhận thức được sự hữu ích của các chương trình nói trên là vấn đề quan trọng đè nặng lên lãnh đạo HTTL VN thời bấy giờ.

Như chúng ta đã biết, lịch sử Việt Nam sau 1945 do ảnh hưởng của chiến tranh, đói kém, loạn lạc đã gây ra cho nhiều gia đình con mất cha, vợ mất chồng và những trẻ thơ vô tội phải sống trong cảnh côi cút thiếu người chăm sóc, thất học phải lưu lạc khắp nơi, không nơi nương tựa; thật là bi đát! Xuất phát từ thực trạng này, một câu hỏi được đặt ra cho Giáo hội lúc bấy giờ là làm thế nào để có được một Cô nhi viện để nuôi dưỡng những đứa trẻ mồ côi? Làm thế nào để có một trường trung tiểu học cho con em tín hữu và đồng bào đến học? Tại sao HTTL VN cần phải có những cơ quan cứu tế và những tổ chức xã hội từ thiện? Một vấn đề được đặt ra đáp ứng đúng thực trạng nhưng muốn thực hiện phải cần có sự hợp tác của toàn thể tín hữu. Cái khó lúc bấy giờ là làm thế nào gây được một ý thức sâu rộng trong Hội Thánh, vì phần đông tín đồ lúc bấy giờ có những quan niệm rất thiển cận nếu không muốn nói là sai lầm, luôn luôn khước từ hoặc chống đối tất cả những đề nghị hợp lý, thực tiễn; chỉ chăm tìm và thực hiện những sinh hoạt tâm linh có tính cách thiêng liêng.

Cảm tạ ơn Chúa vì Đức Chúa Trời tể trị trên tất cả mọi việc, mọi vấn đề được giải tỏa. Vào năm 1950 chính thức đặt vấn đề thành lập một Cô nhi viện Tin lành, một trường trung tiểu học Tin Lành với HTTL VN và xin hỗ trợ bằng sự cầu nguyện đặc biệt cho công việc được sớm bắt đầu. Để gieo vào lòng tín hữu trong Hội Thánh một khái niệm mới mẽ về những vấn đề xã hội, Cô Lê Thị Hồng Ân đã có bài viết đăng trên Thánh Kinh Báo, cơ quan ngôn luận của HTTLVN lúc bấy giờ với tựa đề: “MỘT VIỄN ẢNH CÔ NHI VIỆN HTTL VN” đã gây xúc động nhiều con cái Chúa. Hội Thánh có dịp nhìn thấy rõ hơn về sự cần thiết của những tổ chức xã hội bên cạnh những hoạt động rao giảng Tin Lành. Sau 3 năm cầu nguyện cổ động và đợi chờ, Chúa đã cho cơ hội thành lập Cô nhi viện xảy đến: Vào thời điểm đó HTTL VN vừa mua được một khu đất rộng 9 mẫu tây, phía đông giáp bờ biển, phía tây giáp quốc lộ 1 mà xa xa hơn một chút được áng ngữ bởi dãy núi cao do Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp dâng 40.000đ. Khu đất này thoạt tiên có ý định dùng để xây cất một chỗ dưỡng sức cho các MS-TĐ nhưng không thực hiện được nên HTTL VN quyết định dùng khu đất này để xây dựng Cô nhi viện và trường Trung Tiểu học. Như vậy đã có đất nhưng tiền ở đâu để xây dựng? Một lần nữa Đức Chúa Trời lại dự bị một cách lạ lùng: Ông bà Giáo sĩ W.C Cadman là công dân Anh quốc nhưng suốt đời hầu việc Chúa tại Việt Nam, Ông bà đã làm di chúc là sau khi chết sẽ để lại tài sản của mình cho HTTL VN do MS. Lê Văn Thái quản lý được phép dùng để xây dựng Cô nhi viện. Đức Chúa Trời lại cảm động Tiến Sĩ V.J.R Mills, Hội Trưởng Hội Bảo trợ Nhi đồng Tin Lành Quốc tế giúp 300.000đ để xây dựng cơ sở. Ngài lại tể trị Hội đồng Tổng Liên Hội HTTL VN lần thứ XXII họp tại Sài Gòn ngày 25-27/07/1952 thông qua biểu quyết công nhận việc lập: “Cô nhi viện tại Nha Trang do Ông Hội trưởng MS. Lê Văn Thái trình. Hội Bảo trợ Nhi đồng Tin Lành Quốc tế (Gọi tắt là CCF) do ông Hội trưởng Tiến sĩ V.J.R Mills tán trợ việc xây cất cơ sở và phụ cấp mỗi tháng 70% trong số nuôi 50 em mồ côi, còn HTTL VN phải đảm phụ 30%”. Ngài lại khiến Chính quyền tỉnh Khánh Hòa lúc bấy giờ quan tâm giúp đỡ việc xây dựng Cô nhi viện, cả thủ tục hành chính lẫn tài lực cho sự phát triển của Cô nhi viện.

Ngày 20/03/1953 trên khu đất hoang vu gần bãi biển Hòn Chồng, Thành phố Nha Trang bắt đầu khởi công xây dựng Cô Nhi Viện theo sự mở đường của Chúa và biểu quyết của Tổng liên hội HTTL VN. Để tăng cường nhân lực, Tổng Liên hội đã cử hai ông MS. Duy Cách Lâm và MS. Trần Trọng Thục vào Ban Quản trị xây dựng cơ sở. Bởi ơn Chúa và sự ủng hộ và các con cái Chúa khắp nơi, nên công cuộc xây cất được tiến triển cách khả quan và đã được hoàn thành trong 05 tháng. Vào cuối tháng 8/1953 bốn khu nhà ở, nhà nhân viên, nhà bếp, nhà vệ sinh và nhà văn phòng được hoàn tất; các phần điện, nước, giường và bàn ghế được lắp đặt hoàn chỉnh. Việc dạy và săn sóc các em tạm thời được sắp đặt: 1 trường tiểu học, 1 lớp dạy may, thêu và đan, 1 lớp dạy đánh máy chữ, có giờ riêng học Kinh Thánh và giờ riêng học tiếng Anh, có 1 người chăm sóc ở mỗi khu nhà ở, 1 phòng phát thuốc có 2 y tá thường trực.

Ban Giám đốc đầu tiên của Viện vào năm 1953 gồm: MS. Lê Văn Thái, MS. Trần Trọng Thục và Cô Lê Thị Hồng Ân; 1 bản thông cáo đầu tiên được đăng vào Thánh Kinh Báo như sau: “Theo sự dự thảo của Ban Trị sự Tổng Liên hội và Ban Trị sự chung họp tại Sài Gòn thượng tuần tháng hai vừa qua, rất mong rằng Cô nhi viện Tin Lành thành lập ở Nha Trang có thể thu nhận các cô nhi ước vào sau vụ hè này. Vậy xin toàn thể Hội Thánh cầu nguyện đặc biệt và lo cho các cô nhi (nếu có) sớm đủ điều kiện gởi đến cho văn phòng Tổng Liên hội. Một cô nhi được tiếp nhận phải là:

1. Mồ côi cả cha lẫn mẹ.
2. Cha mẹ đều phải có quốc tịch Việt Nam.
3. Phải có giấy chứng nhận do Mục Sư của Hội Thánh và do nhà chức trách địa phương.
4. Phải trong hạn từ 4 tuổi đến 8 tuổi (nghĩa là hạn được nhận vào ít nhất là phải đủ 4 tuổi và không quá 8 tuổi) và được ở trong Viện cho đến 16 tuổi thì cho ra.”

Cảm tạ ơn Chúa, ngày 4/9/1953 Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang chính thức đi vào hoạt động. Cô Nhi Viện đã tiếp nhận đợt đầu tiên gồm 38 em, trong đó có 27 em là con của MS-TĐ và 11 em là con của Tín hữu; ngày 10/10/1953, Viện nhận thêm 24 em nữa và nâng số cô nhi lên 62 em. Mọi việc sắp đặt xong, Ban Giám đốc biểu quyết cử hành Lễ Khánh thành Cô Nhi Viện vào lúc 5 giờ chiều ngày 11/10/1953, hiện diện trong buổi Lễ Khánh thành có MS. Phó Hội trưởng Trần Xuân Hỉ, MS. Phó Hội trưởng Trần Thự Quang, MS. Tư hóa Duy Cách Lâm, MS. Chủ nhiệm Địa hạt Trung Việt Lê Văn Long. MS. Trần Trọng Thục, Phó Giám đốc Cô nhi viện tường trình công cuộc xây cất và thiết lập Cô Nhi Viện, công tác tổ chức nuôi dưỡng và chương trình học hành của các em nhưng quan trọng hơn là hết sức dẫn dắt các em đến cùng Cứu Chúa Jêsus và gây dựng cho các em nên người hữu dụng cho Hội Thánh và đất nước sau này. Về phía Chính quyền Tỉnh Khánh Hòa, ông Tỉnh trưởng Thái Văn Kiểm đã phát biểu chúc mừng và nêu rõ: “Nhưng ngày nay, những ngôi nhà cao ráo mát mẻ, với những lối ra vào quang đãng đã chứng tỏ rằng không có gì mạnh hơn là đức tin. Chúng ta tin ở điều thiện, tin ở sự thành công, tin ở lẽ phải, tin ở kết quả của sự cố gắng; riêng tôi sẽ luôn luôn ủng hộ và giúp đỡ quý Ngài để nâng đỡ và phát triển Cô Nhi Viện Hòn Chồng ngày một thêm mở mang trên con đường làm việc nghĩa, chia sẻ và cứu vớt những nỗi đau thương của đồng bào”. Một em cô nhi độ 9 tuổi thay mặt tất cả các cô nhi cảm ơn toàn thể Quý vị ân nhân xa gần và hứa nguyện: “Bởi sự yêu thương rất lớn của Đức Chúa Trời mà Ngài đã đưa chúng con là những đứa trẻ không cha không mẹ, đã đến sống chung trong Viện này, Chúa đã cảm động lòng HTTL VN, Hội Cơ Đốc Bảo trợ Nhi đồng và quý Ngài trong Chính phủ có lòng lo lắng săn sóc chúng con rất nhiều. Cuộc nhóm đông đủ hôm nay làm cho chúng con vững tâm sống, vì chúng con biết rằng có bao người nghĩ đến chúng con, những đứa bé côi cút này. Song điều làm cho chúng con sung sướng và vui mừng hơn hết là có Chúa yêu thương chúng con, Cha yêu dấu của chúng con là Jêsus Christ hứa sẽ ở cùng và dẫn dắt chúng con luôn”. Buổi lễ Khánh thành Cô Nhi Viện kết thúc vinh hiển danh Chúa sau khi cụ Giáo sĩ Funé cầu nguyện chúc phước. Xin được phép trích biên bản số 02/1954 của Ban Trị sự Tổng Liên hội HTTL VN họp tại Sài Gòn từ ngày 3-10/06/1954:

Số tiền ủng hộ việc xây cất Cô nhi viện lần đầu tiên

- Hội Bảo trợ Nhi đồng Tin lành ở Hong Kong (Christian Children’s Fund Inc) giúp việc xây cất Cô nhi viện tại Nha Trang: 421.000 đ
- Thủ tướng Đức giúp: 20.000 đ
- Tỉnh Khánh Hòa giúp: 30.000 đ
- Trích trong số Chính phủ cho được miễn thuế sang bộ về tài sản di tặng của Cụ Giáo sĩ W.C Cadman để lập Cô nhi viện: 384.351 đ
Tổng cộng: 855.351 đ

Sau khi tạm hoàn tất dự án xây cất Cô Nhi Viện và tiếp đón 62 em vào nuôi dưỡng, Ban Giám đốc bắt tay ngay vào việc xây dựng Trường trung tiểu học lấy tên là Bết-lê-hem. Ngôi trường này được tọa lạc trên phần đất của Cô Nhi Viện cạnh quốc lộ 1, nên rất thuận tiện cho các em ở trong cũng như ngoài Viện. Ban Giám đốc quyết định cậy ơn Chúa bước đi trong đức tin để xây dựng một nhà trường gồm 5 lớp vào cuối năm 1953 dài 8m x 30m. Giấy phép mở trường Bết-lê-hem do Phủ Thủ hiến Trung Việt cấp ngày 19/10/1953 tại Huế số 6291-VP/PC và giấy phép hợp thức hóa số: 4602-GD/TTH/TTR do Bộ Quốc gia Giáo dục cấp tại Sài Gòn ngày 17/04/1959.

Thật như lời Chúa phán: “Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn hạ và khinh bỉ ở thế gian, cùng những sự không có hầu làm những sự có ra không có” (I Côrinhtô 1: 28). Trường Bết-lê-hem bắt đầu hoạt động từ niên khóa 1953-1954, lúc bấy giờ Viện chưa có nhà trường riêng, các lớp còn phải học tạm trong nhà ăn của Cô nhi. Khi mới bắt tay vào việc cái gì cũng thiếu thốn, cũng bở ngỡ nhưng có sức Chúa nâng đỡ cách lạ lùng. Kỳ thi tiểu học năm đó học sinh trường Bết-lê-hem đã trúng tuyển 100%, điều đặc biệt là trường Bết-lê-hem của HTTL VN có tính cách xã hội dành cho Cô nhi có chỗ học tập, nâng đỡ các học sinh nghèo không lấy học phí. Chính quyền địa phương rất hoan nghênh và ủng hộ rất nhiều: Chỉ dạy cách tổ chức các lớp học, các thủ tục về giấy tờ, cho tài liệu về giáo dục, cho sách vở và giấy bút… Đến niên khóa 1954-1955 vì số học sinh càng đông thêm nên Chúa cho nhà trường có đủ 5 lớp, mở thêm ký túc xá nhận các em học sinh nghèo vào lưu trú trong trường. Niên khóa 1953-1954 có 60 học sinh thì đến niên khóa 1957-1958 có 265 học sinh.  Cô Lê Thị Hồng Ân, người đã sáng lập và làm Hiệu trưởng Trường Bết-lê-hem, người điều khiển Trường từ tình trạng phôi thai đến trưởng thành với bao thành quả tốt đẹp và đầy tâm huyết như người Cô, người Mẹ, người Bạn của các em Cô nhi. Đầu niên khóa 1970-1971, sau 17 năm làm Hiệu trưởng, Bà từ chức để vào Sài Gòn nhận nhiệm vụ mới. TĐ. Lưu Văn Giáo, nguyên là một Cô nhi của Viện và là cựu học sinh của Trường được Giáo hội bổ về điều khiển trường, làm Hiệu trưởng thay thế cho Bà Lê Thị Hồng Ân kể từ tháng 8/1970 -5/1975. Để hiểu rõ hơn về Trường Bết-lê-hem và vị Hiệu trưởng đáng kính của Cô nhi, xin được phép trích diễn văn  trong dịp lễ phát phần thưởng cho học sinh niên khóa 1961-1962 và cũng xem đây như là vị Hiệu trưởng đang nói với chúng ta ngày hôm nay: “Hằng tuần hàng tháng chúng tôi có buổi họp giáo chức trong Trường để cùng cầu nguyện với Cha Thiên Thượng mong được ơn sức mới để hầu việc Ngài. Sau đó, các giáo chức trình bày tình hình chung trong lớp mình phụ trách nói về tánh hạnh, sức khỏe và học vấn của học sinh. Các giáo chức cũng đưa ra các đề nghị và góp ý kiến trong việc xây dựng học sinh và nhà trường, có khi chúng tôi lấy tài liệu về phương pháp giáo dục ở các sách báo ngoại quốc, trong sổ tay Sư phạm… cùng đem ra thảo luận và cùng học hỏi thêm kinh nghiệm của các bậc đàn anh trong ngành giáo dục. Chúng tôi luôn mong được học hỏi thêm để công việc chúng tôi đang theo đuổi có thể mỗi ngày một hoàn mỹ hơn. Làm thế nào để giữ vững được tinh thần thuần túy của đạo Đấng Christ với nền luân lý cổ truyền của dân tộc mà vẫn phải cho các em tiến kịp với đà tiến triển vượt mức của khoa học hiện nay, của thời đại nguyên tử, hỏa tiễn, phi thuyền không gian này. Chúng tôi thấy thật là một việc làm vô cùng khó khăn, đòi hỏi một đức tin bền vững và những cố gắng liên tục. Chúng tôi hằng ngửa trông ơn trên vùa giúp và mong nhận được cao kiến của quý vị và sự giúp sức của quý phụ huynh học sinh. Nhiều khi chúng tôi cảm thấy lòng nặng trĩu mối âu lo cho tiền đồ của một số thanh thiếu niên hiện tại. Tuy nhiên, mỗi sáng tại sân trường sau lễ chào cờ được nghe hàng trăm miệng ngây thơ của các em học sinh cất lên lời cầu nguyện chân thành với Thượng đế rằng: “Trường yêu dấu Bết-lê-hem, cầu Thượng đế xuống phước mới trên trường đây. Xin ơn lành luôn phủ bao đoàn học sinh”. Tôi thầm nghĩ chắc chắn Chúa đã nhận lời cầu xin của các em. Nhìn ra ánh hừng đông đương vươn lên ngoài đại dương kia, với những tia vàng chói lọi như tuổi trẻ của các em học sinh đương vươn lên huy hoàng rực rỡ, lòng tôi lại tràn ngập bao hy vọng và chúng tôi lại vui vẻ hăng hái bắt tay vào công việc của một ngày mới. Chúng tôi tin chắc các quý vị cũng đầy lòng hân hoan, hy vọng ở lớp trẻ này bao điều tốt đẹp cho xã hội ngày mai. Các em học sinh Bết-lê-hem thân mến : Tuy trong số các em có người vì hoàn cảnh gia đình không thể tiếp tục đến trường. Các em sắp rời ghế nhà trường để bước vào đời như những con chim non chưa đủ lông đủ cánh mà phải chống chọi với những cuồng phong bão tố. Các em nhớ rằng, bất cứ làm việc gì cũng phải để hết lòng vào công việc ấy, dầu một việc nhỏ hơn hết phải ý thức được cái trách nhiệm của công việc mình làm và phải chu tất với tất cả lòng nhiệt thành hăng hái. Như vậy, thì bất cứ làm công việc gì, bất cứ ở địa vị nào các em vẫn là người đáng mến, đáng phục và đáng tin cậy. Đã đành xã hội cần những người học thức, nhưng xã hội còn cần những người có lương tâm trong sạch để chu toàn bổn phận nhiều hơn nữa. Chắc chúng ta đều công nhận rằng một ông thợ mộc làm công việc cách ngay thẳng cẩn thận, chu đáo còn có giá trị hơn một ông kỹ sư thiếu lương tâm nhà nghề. Ngoài những đức tính các em sẵn có mà tôi vừa nhắc lại để các em đem áp dụng ở trường đời. Các em còn có bên mình một kho tàng vô giá là quyển Kinh Thánh, lời của Đức Chúa Trời. Các em hẳn chẳng bao giờ quên những câu Kinh Thánh mà các em thuộc lòng từ các lớp dưới như “Sự kính sợ Đức Chúa Trời là khởi đầu sự khôn ngoan” và “Phàm trong các việc làm của con, khá nhận biết Ngài thì Ngài sẽ chỉ dẫn các nẻo của con”. Khi các em gặp phải điều buồn lo sợ hãi thì lời Chúa âu yếm phán với các em rằng: “Đừng sợ, vì Ta ở với ngươi, chớ kinh khiếp vì ta là Đức Chúa Trời ngươi, Ta sẽ bổ sức cho ngươi, phải, Ta sẽ giúp đỡ ngươi”. Rồi khi tiếp xúc với đời gặp phải những giả trá, bất công, vô ơn, bạc nghĩa khiến các em mất tin tưởng vào khía cạnh tốt đẹp của đời thì lời Chúa lại văng vẳng bên tai các em rằng: “Chớ phiền lòng vì cớ kẻ làm dữ. Hãy tin cậy Đức Giê-hô-va và làm điều lành. Khá nuôi mình bằng sự thành tín của Ngài. Hãy phó thác đường lối của mình cho Đức Giê-hô-va và nhờ cậy Ngài. Chớ phiền lòng vì điều đó chỉ gây ra việc ác”. Như thi hào Đa-vít đã dệt lên những vần thơ bất hủ rằng: “Ôi lời Chúa là ngọn đèn cho chơn tôi, ánh sáng cho đường lối tôi”. Và chính Chúa Jêsus Christ đã phán rằng: “Ta là sự sáng của thế gian, người nào theo Ta chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống”. Nhờ ánh sáng nhiệm màu ấy các em sẽ bước đi an ninh trên những quãng đường đời u tối nhất, cũng nhờ ánh sáng ấy là chính Jêsus Christ, các em sẽ được đưa tới đồng cỏ xanh tươi, đến mé nước bình tịnh và rồi mai đây các em sẽ vĩnh viễn ở bên bờ vàng đẹp xinh, có ngàn cây sanh trái bốn mùa, có tình thương bất diệt, xa hẳn cuộc đời đầy đau thương cùng nước mắt này. Các em biết chăng nhờ lời Đức Chúa Trời bao cuộc đời được tái tạo, bao người trở nên vĩ nhân, sự nghiệp còn lưu lại muôn đời cho hậu thế”.

Đến năm 1957, Ban Giám đốc biểu quyết dùng số tiền quân đội thuê vườn dừa mấy năm qua để xây một nhà thờ riêng cho Viện (hiện còn đến bây giờ, tháng 06/2013). Nhà thờ được xây theo kiểu mới rất đẹp, có lầu chuông, nền lót gạch hoa và các dụng cụ trong nhà thờ đều được đóng theo kiểu đặc biệt. Phòng nhóm của nhà thờ rộng 8m x 17m, còn phần trong tòa giảng 4m chia ra giữa là tòa giảng, hai bên có hai phòng, tổng diện tích nhà thờ là 8m x 21m. Như vậy, kể từ đây ngôi nhà thờ này đã gắn bó với các thế hệ cô nhi suốt 25 năm. Thật cảm tạ ơn Chúa, chức năng giáo dục đời sống tâm linh ngay từ lúc còn thơ ấu của Cô Nhi Viện theo lời Chúa dạy đã khởi đầu cách tốt đẹp. Và cứ như thế Cô Nhi Viện cứ phát triển theo từng năm, đến năm 1958 Viện đã xây cất thêm 2 nhà cho nhân viên, 5 nhà cho cô nhi, 2 nhà lưu trú học sinh, 1 nhà phát thuốc, 2 nhà ăn, 2 nhà bếp, 1 nhà thờ, 1 nhà trường có 5 lớp học, 4 giếng nước có máy bơm và 1 nhà quán cô nhi. Tất cả các công tác thực hiện tại đây đều do đức tin và lòng yêu thương của các con cái Chúa ở trong và ngoài Nước, sự ủng hộ của Chính phủ và sự góp phần của những nhà hảo tâm đã nghỉ đến đàn trẻ thơ bơ vơ mà tận tâm ủng hộ. Những gì Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang có được suốt 5 năm qua sẽ là tiếng chuông vang rền kêu gọi, sẽ tỉnh thức bao người đối với những công cuộc từ thiện đang chờ đợi, những vết thương đau cần được hàn gắn, những tấm lòng tan vỡ cần được xoa dịu, những cảnh cô đơn cần được tình thương ấp ủ, để tìm lại được những nhịp sống êm dịu và tươi đẹp của cuộc đời.

 

  Ngày 04/09/1958, Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang và trường Bết-lê-hem kỷ niệm 5 năm thành lập. Cảm tạ ơn Chúa, Cô Nhi Viện của HTTL VN đương tập tểnh bước đi và còn học hỏi rất nhiều, với bao vụng dại và ngây thơ của một trẻ em trong công việc quá mới mẽ và đầy khó khăn, nhưng chỉ bởi ơn thương xót của Đức Chúa Trời vùa giúp và do sự cầu nguyện ủng hộ của toàn thể con cái Chúa ở trên mảnh đất Việt Nam và nước ngoài mà Cô nhi viện có thể thầm ngợi khen Chúa rằng: “Giê-hô-va ôi! Sự thành tín Chúa lớn lắm”. Cũng trong năm này, 28 cô nhi đã trưởng thành và phải ra Viện có thể tự nuôi sống mình, một số được nâng đỡ để tiếp tục con đường học vấn và cũng có những cô nhi là giáo chức, là sinh viên thần học, có một số cô nhi sau khi ổn định cuộc sống thì quay trở lại phục vụ làm nhân viên trong Cô nhi viện; trong số này có cô nhi Phạm Xuân Thiều sau này là MS Hội trưởng HTTL VN (MN). Viện lại tiếp đón những cô nhi khác để tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục. Danh sách cô nhi sống tại Viện từ 1953 – 1958 (Huynh trưởng cô nhi) sẽ đính kèm theo sau.

 

        Để đáp ứng nhu cầu phát triển của Cô nhi viện và phân định nhiệm vụ rõ ràng, một Ban Giám đốc mới đã được kiện toàn gồm có: Giám đốc: MS. Lê Văn Thái, Tư hóa: MS. Trần Văn Đệ, Thư ký: Bà Lê Thị Hồng Ân, Nghị viên: MS Trần Trọng Thục. Và cứ như thế, Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang cứ tồn tại và phát triển theo từng năm nhờ sự đồng lao cộng lực của HTTL VN và Hội Bảo trợ Nhi đồng Tin Lành Quốc tế, nhờ sự ủng hộ vật chất và khuyến khích tinh thần của chính quyền địa phương và quý nhà hảo tâm, và nhất là nhờ ở ái tâm cùng đức tin dũng cảm của quý vị MS-TĐ và thiện chí của các nhân viên phụ trách. Sự tiến triển của Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang được thể hiện qua các thông số: năm 1962-1963 có 235 em cô nhi đang sống tại Viện, năm 1960 xây trường Bết-lê-hem mới đủ chỗ cho 400 học sinh học tập, xây các bức tường rào bao quanh Cô nhi viện, sửa chữa nhà ăn thành 2 phòng riêng biệt nam và nữ đủ chỗ cho 250 cô nhi. Đến thời điểm này đã có 9 khu nhà ở cho cô nhi và các khu nhà văn phòng, nhà lưu trú, nhà phát thuốc và các nhà phụ thuộc được nâng cấp rộng rãi hơn và đầy đủ tiện nghi hơn. Cảm tạ ơn Chúa! Trong 10 năm qua, mặc dù về sức khỏe các em cô nhi có đau ốm ít nhiều nhưng Chúa vẫn bảo vệ chăm sóc thể xác các em nên không có một em nào qua đời. Có nhiều cô nhi đã thành đạt ở ngoài xã hội cả về văn hóa lẫn chức nghiệp, hoặc quay lại Viện nhận chức giáo viên trường Bết-lê-hem như các cô nhi: Đặng Thị Minh Đức, Phạm Xuân Thiều, Nguyễn Thị Nhân, Nguyễn Văn Phong, Nguyễn Văn Thành… Năm 1963, kỷ niệm 10 năm thành lập, Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang cho xuất bản cuốn cô nhi 10 tuổi và vẫn kiên định mục đích:

 - Làm vơi đi phần nào nổi đau khổ của một số trẻ em bất hạnh thiếu cha mất mẹ.

- Tôn vinh Danh Cứu Chúa Jêsus Christ là Đấng sáng lập và điều khiển Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang.

Làm thế nào có thể tưởng tượng nổi một đàn con lên đến 235 đứa, từ những lứa tuổi chưa biết tự mặc lấy áo quần cho đến những lứa tuổi lớn hơn 14-15 tuổi sống chung với nhau trong một đại gia đình trải qua 10 năm vẫn được bình an trọn vẹn, há chẳng phải là một phép lạ hay sao? Có những em bị bỏ rơi ở dọc bụi bờ, đường phố cho dù trải qua thời gian khá lâu cố gắng tìm kiếm nhưng vẫn không biết được thân nhân, có những em đến với thân hình tiều tụy, bệnh hoạn nhưng thời gian sau được thay đổi, khỏe mạnh và ngoan ngoãn, trên gương mặt của các em không còn dấu hiệu của sự chết chóc, buồn đau, cô đơn hoặc đói khát nữa và các em tìm lại được nơi đây một tình thương đầy đủ của con người. Điều đó chỉ có thể trả lời được bằng hình ảnh từ buổi sáng mờ sương các cô nhi đã chờ dậy hướng lòng về thượng đế với những lời cầu nguyện thiết tha cảm tạ sự nhân từ, sự thương xót của cha các em ở trên trời và những lời cầu xin sự quan phòng, sự tể trị, sự bình an trong quyền năng của Đức Chúa Trời chí cao. Đã có lần, cụ MS. Ông Văn Huyên, Viện trưởng Viện Thánh Kinh Thần học Nha Trang thốt lên rằng: “Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang là tiếng nói về tình thương yêu cụ thể cứ vang dội và còn mãi”. Thật đúng thế! Tình thương yêu cụ thể này phát nguồn từ Đức Chúa Trời yêu thương, Đức Chúa Trời với danh xưng “Cha của trẻ mồ côi” hằng lo liệu cho tình yêu thương cụ thể này. Nói cách khác, chính Đức Chúa Trời cao cả đang chăm lo cho Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang là công việc yêu thương của Ngài, xưa cũng như nay hể cánh tay toàn năng, toàn ái của Chúa giơ ra cho nơi nào thì nơi đó có sự tiến triển càng thêm tiến triển.

Cảm tạ ơn Chúa! Về giáo dục đến năm 1963 trường Bết-lê-hem có 487 học sinh theo học, uy tín của trường ngày càng tăng đến nổi có nhiều phụ huynh ở khu vực Thành phố Nha Trang gửi con đến học nhưng không đủ chỗ để tiếp nhận. Hơn một nữa số giáo viên của trường là các cô nhi đã có bằng trung học đệ nhất cấp hoặc tú tài tham gia giảng dạy tại trường và trường vẫn kiên định mục tiêu đào tạo không học phí. Có được như vậy là bởi ơn lớn của Đức Chúa Trời vùa giúp, do lời cầu nguyện của tôi tớ con cái Chúa khắp nơi và nhờ sự giúp đỡ tích cực của Hội Bảo trợ Nhi đồng Tin Lành Quốc tế cũng như nhờ tinh thần nhiệt thành ủng hộ của chính quyền địa phương và sự  tín nhiệm hợp tác chặt chẽ của phụ huynh học sinh.

   Đến thời điểm này, do hoàn cảnh của chiến tranh và điều kiện phát triển của Cô nhi viện nên thể lệ nhận cô nhi vào Viện được mở rộng: trẻ em mất cha hoặc mất mẹ từ 3-8 tuổi ở khắp lãnh thổ Việt Nam không phân biệt màu da hay chủng tộc được nuôi dưỡng đến 16 tuổi hoặc học xong lớp Đệ thất trong trường được cho ra Viện. Những em ra Viện được gửi đến các trường cao hơn hoặc đào tạo nghề hoặc giữ lại Viện để làm nhân viên. Sự ước mong lớn lao và quan trọng là các em sau này ra đời chẳng những có đủ khả năng sống một cuộc đời no ấm, mà hơn nữa với một căn bản kính Chúa yêu người, các em có thể là những công dân gương mẫu, giáo chức đạo đức, những công chức có lương tâm hay dâng đời mình cho việc cứu rỗi linh hồn đồng loại. Hãy nghe lời tâm sự của cựu cô nhi Phạm Xuân Thiều là sinh viên Thánh Kinh Thần học viện Nha Trang nói với các em học sinh nhân lễ mãn khóa của trường Bết-lê-hem năm 1963: “Các em thân mến! Chắc hầu hết các em ở đây đều không biết chúng tôi cũng như chúng tôi chưa được biết các em. Nhưng các em ạ! Dù biết rồi hay chưa biết đi nữa thì chúng ta vẫn là học sinh của một trường, cùng chung một thầy, cùng được hưởng những lời khuyên bảo như nhau. Do đó sự không quen biết giữa vòng chúng ta cũng không thể nào cắt đứt được sợi dây liên lạc mật thiết đã nối giữa chúng ta với nhau. Các em thân mến! Với tư cách là một học sinh cũ của trường, là người đã đi trước các em tôi có lời khuyên các em nên hết lòng vâng theo những lời chỉ dạy của các thầy cô cũng như cố gắng học tập hầu có thể đạt được kết quả tốt đẹp trong hiện tại cũng như trong tương lai sẽ là một người hữu dụng cho nhà Chúa và cho đất nước”.

Sau lễ kỷ niệm Cô nhi viện 10 tuổi, tình hình nước nhà bước vào một giai đoạn mới, khó khăn hơn. Chiến tranh đã bắt đầu khởi động ở các miền quê lẻo lánh. Để đáp ứng với nhu cầu năm 1963-1970, Viện phải xây dựng thêm một nhà cô nhi ở (phòng 10) để tiếp nhận thêm một số cô nhi nạn nhân của chiến cuộc. Xây thêm 4 nhà nhân viên ở để phụ trách các ngành, nghề trong Viện như cất một trại chăn nuôi heo, gà, đào một hố nuôi cá chép, xây một hồ làm mắm, trồng một vườn rau xanh, không những cung cấp đủ thức ăn trong Viện mà còn bán ra ngoài. Trong năm này Viện sửa chữa rộng nhà ăn đủ chỗ cho 250 cô nhi.

Cảm tạ ơn Chúa! Cụ Giám đốc Cô nhi viện MS. Lê Văn Thái, sau 18 năm làm Hội trưởng HTTL VN (1942-1960) đã xin từ nhiệm chức Hội trưởng để quay về toàn tâm toàn ý cho Cô nhi viện. Ngày 25/05/1968, Ban Trị sự Tổng Liên hội HTTL VN đồng ý chấp thuận cho MS. Lê Văn Thái được về hưu do biên bản số 3/68/TLH/167 như sau:

Khoản 6: Biểu quyết chấp thuận đơn của cụ MS. Lê Văn Thái đề ngày 20/3/1968, xin nghỉ chức Giám đốc Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang kể từ đầu tháng 7/1968. Thông qua.

Khoản 7: Biểu quyết chấp thuận đơn của cụ MS. Lê Văn Thái đề ngày 20/3/1968 xin hưu trí kể từ tháng 7/1968. Thông qua.

Khoản 8: Biểu quyết thuận cử MS. Trần Văn Đệ giữ nhiệm vụ Giám đốc Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang một nhiệm kỳ 2 năm kể từ đầu tháng 7/1968 thay cho MS. Lê Văn Thái xin nghỉ. Thông qua.

Như vậy, sau 15 năm gây dựng và phát triển Cô nhi viện với chức vụ Giám đốc, MS. Lê Văn Thái một đầy tớ ngay lành và trung tín của Chúa đã biết tiến đúng lúc và biết thoái đúng lúc, hoàn thành 46 năm chức vụ hầu việc Ngài trong giai đoạn đầy khó khăn và thử thách của HTTL VN và Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang. Lễ bàn giao chính thức chức vụ Giám đốc Cô nhi viện được tổ chức tại nhà thờ Cô nhi viện lúc 16 giờ ngày 30/06/1968 do MS. Trần Trọng Thục, Chủ nhiệm Địa hạt Nam Trung Phần chủ tọa. Ông MS. Vũ Văn Cư, phó Hội trưởng HTTL VN thay mặt MS Hội trưởng trình bày đại cương về việc thành lập Cô nhi viện và tuyên đọc biên bản của Tổng Liên hội, nguyên văn như sau: “Được một khải tượng về công việc của Chúa là một đặc ân của Ngài. Biến khải tượng đó thành một thực sự, đấy là công việc của đức tin neo mình trong tay Chúa cùng với ý chí quyết tâm theo sự dẫn dắt của Thánh Linh. Đang khi chúng ta ngồi trong nhà thờ của khu Cô nhi viện, hãy hồi tưởng đến khoảng thời gian 15 năm trước đây, khuôn viên này chỉ là một miếng đất hoang vắng và lạnh lẽo như cái nghĩa địa ở bên kia Quốc lộ 1 đối diện với nó. Lúc ấy cụ MS. Lê Văn Thái giữ chức Hội trưởng của HTTL VN, đã được khải tượng về công tác mới của Hội Thánh: công tác xã hội để bày tỏ các thực tế của Cơ Đốc giáo cho đồng bào. Năm 1952-1953, cuộc chiến tranh Việt - Pháp đang hồi quyết liệt, gieo tang tóc cho nhiều gia đình tín hữu. Hình ảnh các em thiếu nhi không cha, thiếu mẹ, nheo nhóc, đã gây xúc động cho đầy tớ Ngài khi đi thăm đây đó. Đức Chúa Trời đã dùng những hình ảnh sống động ấy mà ban cho cụ khải tượng về sự thành lập một Cô nhi viện. Để thúc đẩy đầy tớ Chúa trong công tác này, Ngài đã cảm động Cố Giáo sĩ W.C. Cadman, trước khi qua đời, để lại một chúc thư, di tặng tài sản của mình cho HTTL VN. Chính tài sản ấy đã được dùng để xây cất những cơ sở đầu tiên của Cô nhi viện. Buổi đầu của một công tác mới thì tránh sao cho khỏi những khó khăn, ngăn trở từ bên ngoài lẫn bên trong! Nhưng với ý chí cương quyết và lòng tin vững vàng, cụ đã vượt qua mọi chặng đường ấy. Sau 15 năm kiên trì hoạt động của cụ, chúng ta đều thấy Cô nhi viện đã được mở mang đồ sộ như ngày nay về phần cơ sở cũng như số lượng các em cô nhi. Thật cụ MS. Lê Văn Thái đã gây dựng cho HTTL VN một tài sản đáng giá hàng chục triệu đồng, để lại cho chúng ta một gương sáng về tinh thần hầu việc Chúa, hướng theo một mục đích cao cả, rất khích lệ chúng ta".

Sau khi MS. Phó Hội trưởng dứt lời, một em bé cô nhi từ tốn bước ra đọc những lời tri ân với một giọng nhỏ nhẹ cảm động, em bé đó chính là cô nhi Tô Thị Nhỏ. Xin được trích nguyên văn lời tri ân:

“Hôm nay là lễ Hưu Trí của Ông và cũng là ngày Ông bàn giao chức vụ giám đốc. Chúng con vô cùng bùi ngùi cảm xúc. Không phải giờ phút này, chúng con mới cảm thấy nỗi buồn nhớ của chúng con. Nhưng từ mấy tháng nay nghe ông sắp về hưu, lòng chúng con đã bối rối và buồn rầu vô hạn. Chúng con được biết rằng, nơi đây xưa kia chỉ là một bãi cát hoang, thế mà ông đã cậy ơn Chúa, với bao công lao khó nhọc lo lắng, xây dựng cho Viện mỗi ngày một phát triển thêm. Nhờ đó mà ngày nay, Viện mới có một quang cảnh tốt đẹp như vậy. Trải qua mười lăm năm, ông đã hao tâm tổn trí, lo lắng xây dựng cho biết bao anh chị cô nhi chúng con, trong số đó đã có nhiều người đã thành gia thất và đã chiếm được những địa vị khả quan trong xã hội. Ông bà lại còn luôn lo lắng cho chúng con từng ly từng tí, nào là áo cơm, nào là nơi ăn chỗ ngủ, nơi thờ phượng Chúa, chỗ học. Nhưng không phải ông bà chỉ lo cho chúng con có vậy thôi đâu, chúng con còn nhận nơi ông bà một tình thương mà chúng con không tìm đâu thấy, một tình thương làm ấm áp lòng chúng con, một tình thương làm sống lại nơi chúng con là những kẻ xấu số một niềm hy vọng tươi mới. Hàng ngày thấy bóng dáng ông, lòng chúng con vững vàng, trí chúng con được vui tươi. Chúng con là những kẻ thiếu cha, mất mẹ, Chúa đã thương chúng con, cho chúng con sống trong Viện đây, và chúng con cảm thấy được hưởng tình thương ấm áp như trong một gia đình. Ông bà chính là cha me, là ông bà của chúng con, nhưng chúng con biết rằng thời gian trôi qua không ngừng và chúng con đâu có sức gì níu kéo thời gian lại. Thật vậy, tuổi ông bà mỗi ngày một cao và bao nhiêu năm ông bà đã tận tụy lo gây dựng công việc nhà Chúa, hơn nữa những năm sau này ông bà đã để hết tâm lực lo lắng cho đoàn cô nhi chúng con. Bây giờ là lúc ông bà đáng phải được nghỉ ngơi, với niềm vui là nhìn thấy những hạt giống của ông bà đã gieo ra được mọc lên, và đương đâm bông kết quả tốt đẹp cho nhà Chúa. Ông chính là người sáng lập ra Viện này, tinh thần vị tha và lòng yêu thương cao quý của ông bà sẽ là ngọn lửa bất diệt bừng sáng mãi nơi đây. Vì vậy, con xin thay lời cho các anh em cô nhi đã xuất Viện, cho anh chị em chúng con hiện đương sống tại Viện, và những lớp cô nhi sẽ vào sống trong Viện sau này chân thành nói lên lòng biết ơn vô bờ bến của chúng con đối với ông bà rất quý mến của chúng con. Để tỏ lòng biết ơn ông bà, chúng con cũng chỉ biết gắng sức học hành, hết lòng kính sợ Chúa để trở nên người ích lợi cho nhà Chúa và mai sau. Chúng con biết ông bà chỉ mong ước nơi chúng con chỉ vậy thôi”.

Trong lễ bàn giao hôm đó, MS. Ông Văn Huyên, Viện trưởng Viện Thánh Kinh Thần Học Nha Trang có cảm tác bài thơ tặng cụ MS. Lê Văn Thái như sau:

Lễ hưu trí cảm tạ ơn Cha

Bàn thạch tay thiên vững nếp nhà.

Giao hối trẻ côi Ân đức trọng,

Giám minh son sắc Chánh trung hòa.

Đốc đôn mười lẽ năm năm trọn

đãi năm nay bảy chục già.

Nhi ấu bùi ngùi nhìn núi Thái

Viện tiền Đệ tử tủi mừng ca”

Đồng song và đồng lao - Mục Sư Ông Văn Huyên

Thời gian trôi nhanh, Cô nhi viện trên đà phát triển, thình lình vào năm 1971, một thử thách lớn đến với Viện. MS. Trần Văn Đệ, Giám đốc đương thời, một tôi tớ Chúa đã hết lòng tận tâm tận lực cho đoàn cô nhi đã về với Chúa sau một cơn bạo bệnh vào ngày 8/3/1971, đoàn cô nhi và nhân viên cảm thấy bơ vơ và lạc lỏng nhưng tin rằng trên hết có Đức Chúa Trời là Cha yêu thương luôn chăm sóc kẻ mồ côi trong cơn khốn khó của họ. Ngày 23/4/1971, MS. Hội trưởng Đoàn Văn Miêng và MS. Phó Hội trưởng Phạm Xuân Tín từ Đà Lạt đến thăm và an ủi bà quả phụ MS. Trần Văn Đệ, các cô nhi và nhân viên sau cơn thử thách. Vì công việc chung của nhà Chúa, Ban Trị sự Tổng Liên hội cử MS. Trần Trọng Thục đương kiêm Chủ nhiệm Địa hạt Nam Trung Phần, kiêm nhiệm chức vụ Giám đốc Cô nhi viện. Ban Giám đốc gồm có: Giám đốc MS. Trần Trọng Thục, Quản lý TĐ. Đặng Đệ, Hiệu trưởng TĐ. Lưu Văn Giáo. Từ đó sinh hoạt đã trở lại bình thường. Cuộc họp đầu tiên của Ban giám đốc biểu quyết những vấn đề như sau: mở lại các lớp trung học đệ nhất cấp ở trường Bết-lê-hem, mở trường huấn nghệ cho cô nhi học nghề. Đầu tiên xây một trại mộc dài 16m x 5m để dạy các em nam học ngành mộc như tập bào những thanh gỗ trơn láng, đóng bàn ghế, tủ giường. Vào mùa hè năm 1971, lễ đặt viên đá đầu tiên xây cơ sở huấn nghệ trước quốc lộ 1. Sau 3 tháng cơ sở này đã được hoàn thành với các phòng: phòng dạy may cô nhi nam, phòng dạy may cô nhi nữ, thêu đan móc, phòng dạy in có thợ chuyên môn chỉ dẫn các cô nhi thực tập sắp xếp chữ và in. phòng dạy sửa chữa đồng hồ, radio, phòng dạy sửa xe honda cũng được các em chiếu cố và say sưa tập tháo ráp. Sau đó xây cất thêm một garage sửa xe hơi bề dài 16m x 8m lợp tôn, nơi đây cũng được các người anh chuyên nghiệp tận tình chỉ dạy.

Cũng vào tháng 12/1971, do ảnh hưởng của cuộc phục hưng tại Thánh Kinh Thần Học Viện Nha Trang đã lan tỏa đến Cô nhi viện. Cảm tạ ơn Chúa! Các em cô nhi đã biết ăn năn tội lỗi của mình bắt đầu sống ngay thẳng, ngoan ngoãn không còn phá phách như trước nữa; các cây dừa trong Viện không còn rào lại nữa, các kho chứa đồ không bị mất cắp nữa, cuộc sống dần dần đi vào ổn định, tự nguyện tự giác chấp hành kỷ luật nội quy của Viện.

Vì nhu cầu các cô nhi càng ngày càng đông nên năm 1972 kéo dài 4 nhà cô nhi ở (phòng 1, 2, 3, 4) mỗi phòng dài 5m để đủ chỗ cho 40 cô nhi sinh hoạt. Trên miếng đất rộng gần trường Bết-lê-hem xây một Hội trường mới dài 24m x 13m khang trang và mát mẻ. Trong trường xây một quán giải khát cho cô nhi bán dụng cụ học sinh và bánh, kẹo, nước giải khát cho học sinh.

Vào mùa xuân năm 1973, Viện sửa hội trường cũ, xây lại một ngôi nhà dùng làm phòng dạy may lớp sơ cấp, phòng trưng bày sản phẩm cô nhi, phòng dạy đánh máy chữ và phòng đọc sách. Mở thêm một phòng cho cô nhi ở (phòng 11) và xây một nhà chơi, trong đó có 2 căn làm nhà để xe hơi của Viện.

Nhận thấy trước mặt biển Hồn Chồng là một thắng cảnh du lịch đẹp của miền quê hương cát trắng, Viện đã xây nhà vãng lai dài 20m x 6m chia làm các phòng: một quán giải khát và 3 phòng đầy đủ tiện nghi để khách vãng lai thuê tạm.

Vườn dừa Cô nhi viện mà các em đã trồng từ những ngày đầu tiên ấy nay thật sai trái, nặng trĩu, khô và rụng xuống nên đã xây thêm một lò ép dầu dừa. Nơi đây vừa là chỗ dạy cho các em biết thêm một nghề, vừa là nơi cho các em hoạt động mà không biết chán. Ngoài ra Viện còn xây thêm một lò nấu sữa đậu nành và đậu miếng, một lò làm bánh tráng để bán ra ngoài. Đây là chương trình phát triển kinh tế tự túc của Viện.

Từ năm 1972-1973, trong Viện có trên 350 em cô nhi được sống trong 11 ngôi nhà ấm áp, dưới sự bảo trợ của tình thương cao cả trong Cứu Chúa Jêsus. Mỗi nhà được xem như một gia đình cô nhi để các em cảm thấy thân thiện và ấm cúng. Trưởng phòng là các cô đã học lời Chúa ở Thần Học Viện hoặc cựu cô nhi và người giúp đỡ để săn sóc các em về phần thuộc linh lẫn thuộc thể. Các em tự bầu thêm một ban: Gia trưởng, trật tự và vệ sinh để chung lo cho nhau một cách chu đáo.

Hằng ngày, lúc 5 giờ sáng, một hồi kẻng vang lên đánh thức các em dậy, 15 phút sau các em nhóm cầu nguyện, những bản Thánh Ca từ trong phòng vang lên trong sương sớm, khi trầm, khi bổng. Sau giờ cầu nguyện, các em ăn điểm tâm và bắt đầu đi học ở Trường trung tiểu học Bết-lê-hem. Đồng hồ chỉ đúng 11 giờ, một hồi kẻng báo hiệu tan học, các em lần lượt về phòng và sau 15 phút các em vào phòng ăn để ăn trưa, có 1 giờ các em nghỉ trưa hay học bài. Buổi chiều, các em lớn học trung học, còn những em khác học nghề hay lo làm phận sự của mình.

Hoàng hôn bao trùm vạn vật, những khu nhà mờ dần trong màn đen tối, cũng đồng thời ánh sáng đèn điện lan tràn khắp cả phòng. Một hồi kẻng vang lên, báo hiệu giờ cầu nguyện tối đã đến giờ gia đình lễ bái. Hình ảnh các em ngồi chung quanh giường, dưới ánh đèn cùng đọc Kinh Thánh, cùng được nghe lời Chúa qua sự chia sẻ hay kể truyện tích Kinh Thánh của cô trưởng phòng và cùng nhau quỳ gối cầu nguyện với Cha trên trời, lòng các em cảm thấy ấm cúng, bớt cô đơn vì qua giềng mối của Chúa các em tin rằng trên hết có bàn tay của Cha từ ái luôn chăm sóc các em. Mỗi sáng Chúa nhật, các em được thờ phượng Chúa ở Nhà thờ của Viện, qua những buổi thờ phượng Chúa rất tôn nghiêm, được học Trường Chúa nhật, nghe giảng lời Chúa qua các tôi tớ Chúa, các em được sâu nhiệm về Chúa nhiều hơn. Noel được tổ chức mừng Chúa giáng sinh, được tập hát và được mời đi thông công ở các Hội Thánh bạn như Vĩnh Phước, Nha Trang, Thần Học Viện, Chuẩn y viện thật là phước hạnh 

 

Ngoài những giờ học và làm việc, các em còn được dẫn đi tắm biển, tập thể dục, tổ chức những đội banh, ban hướng đạo “Emmanuel” do các huynh trưởng hướng dẫn, được chia làm 3 đoàn: thiếu đoàn, nhi đoàn và ấu đoàn để sinh hoạt. Những buổi cắm trại lành mạnh, giải trí học hỏi thêm về thiên nhiên, mở mang trí tuệ. Những đoản ca được hát lên, những câu Kinh thánh được áp dụng để các em ngày càng yêu Chúa và yêu nhau hơn, đoàn kết và chia sẻ trong Cộng đoàn.

 

Hiện có 47 nhân viên đang phục vụ và dạy các ngành nghề cho các em. Trong đó có 12 cựu cô nhi đang phục vụ Chúa tại Viện với các ngành huấn nghệ, trưởng phòng, thư ký, giáo viên, Hiệu trưởng Trường Bết-lê-hem. Nhờ sự giúp đỡ của Chúa như thế, hễ Viện phát triển và có nhu cầu xây dựng đến đâu thì Chúa dùng các tôi con của Chúa ở trong và ngoài Nước, và dùng các nhà hảo tâm giúp cho việc xây dựng đến đó. Đến năm 1975, Viện đã xây dựng 12 nhà cô nhi chứa từ 22 đến 58 em, 1 nhà làm việc và tiếp khách của Ban Giám đốc, 1 nhà thờ, 2 nhà nhân viên, 2 dãy trường đối diện nhau gồm 9 phòng học, 1 văn phòng, 1 phòng hiệu trưởng, 1 hội trường, 1 nhà huấn nghệ, 1 nhà vãng lai, 2 nhà ăn, 2 nhà bếp, các nhà vệ sinh có buồng tắm, 1 nhà kho, nhà làm mắm, chăn nuôi heo gà và một hồ nuôi cá chép, các bức tường bao quanh khu đất của Viện.

Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang được thành lập từ năm 1953 đến năm 1975 được 22 năm. Trong 22 năm qua số cô nhi được sống tại Viện là 875 em. Trường Bết-lê-hem hoạt động từ niên khóa 1953–1954 đến niên khóa 1974–1975 vừa tròn 22 năm, sỉ số niên học đầu tiên là 60 em và niên khóa cuối cùng là 840 em. Ngoài những chương trình của Bộ Giáo dục, Trường còn dạy Kinh Thánh với một cán sự giáo lý mỗi tuần 1 giờ, có các sinh viên, học sinh của Thần Học viện đến sinh hoạt với các em. Giáo dục con em là đặt nền móng cho suốt đời sống của chúng về trí, đức và thể dục; Tương lai của các em ngày mai thế nào là do giáo dục ngày nay. Năm 1973, kỷ niệm 20 năm thành lập Cô nhi viện cho xuất bản cuốn Cô nhi 20 tuổi.

Cô Nhi Viện đang trên đà phát triển thì đến đầu mùa xuân 1975 tình hình chiến sự của đất Nước đang rất căng thẳng, giải phóng lần lượt Tây Nguyên rồi đến Huế và Đà Nẵng. Đêm 31/03/1975 thật quả là một đêm đầy hãi hùng và kinh khiếp, nhiều tiếng súng nổ lên khắp nơi, một phần là do người ta đâm chém, cướp bóc lẫn nhau, gây cảnh hỗn loạn khiến Cô Nhi Viện lo sợ và căng thẳng. Đến ngày 2/4/1975 giải phóng Thành phố Nha Trang và Tỉnh Khánh Hòa, ngày 30/4/1975 giải phóng Sài Gòn chấm dứt cuộc chiến dài 21 năm thống nhất đất Nước. Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang ở trong tình trạng được tiếp quản và Nhà Nước quản lý toàn bộ. Trong thời điểm lịch sử ấy, Cô nhi viện có chương trình đưa toàn bộ cô nhi và nhân viên di tản vào Sài Gòn nhưng rồi vì lý do tài chính khó khăn và đầy nguy hiểm nên ý định đó không thành. Cảm tạ ơn Chúa! Với 400 cô nhi và gần 100 nhân viên sẽ đi về đâu và sẽ sống ra sao? Hiện tại thì quá phiêu lưu mà tương lai thì mù mịt; và tất nhiên sẽ có quá nhiều cô nhi không được gặp lại người thân của mình nữa.

Đây là giai đoạn cực kỳ khó khăn và đầy nước mắt của Cô Nhi Viện, các nguồn viện trợ không còn nữa phải tự lực cánh sinh; lần lượt các em cô nhi phải tự túc rời Viện để đi về quê hương của mình trong hoàn cảnh nguy hiểm đầy bất trắc, còn các em cô nhi quá nhỏ không thể tự túc đi về được thì Viện gửi cho các tín hữu ở Tỉnh nào thì nhờ dẫn về Tỉnh đó. Thật là đau xót, vì có những em cô nhi quá nhỏ không biết quê quán mình ở đâu? Người thân của mình là ai? Hội Thánh gửi các em vào là Hội Thánh nào? Làm thế nào để các em đi về được trong hoàn cảnh hỗn loạn như vậy? Nhưng cảm tạ ơn Chúa! Vì Ngài đã dự bị sẵn những gì tốt đẹp nhất cho các em: trên ngực áo bên trái có thêu bảng tên Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang thì chắc chắn rằng có nhiều người sẽ giúp đỡ các em trong hoàn cảnh đó.

Trong thể lệ nhận cô nhi vào Viện và ra khỏi Viện có viết: “Vì tình thế hoặc một lý do nào khác mà Viện không thể hoạt động được nữa, Viện sẽ trả các cô nhi lại cho thân quyến của các em hoặc các cơ quan đã cử các em đến. Viện không chịu trách nhiệm nào ngoài gánh nặng bởi tình yêu của Cơ Đốc nhân". Nên từ sau ngày giải phóng, Ban Giám đốc cùng với lãnh đạo Tỉnh Khánh Hòa sắp xếp cho sự tiếp quản:

- Gửi các cô nhi về với gia đình của các em.

- Các cô nhi lớn và nhân viên không về với gia đình thì sắp xếp việc làm.

- Các giáo viên Trường Bết-lê-hem được tiếp tục sử dụng.

Đến tháng 12/1975, một số ít cô nhi còn lại mới được có người thân đến đón về quê quán. Có thể nói đây là thời điểm bắt buộc ra Viện trong hoàn cảnh thật bi đát và đau xót, so với các thế hệ cô nhi ra Viện trước đó trong khi đã trưởng thành và được trang bị đầy đủ cả về văn hóa lẫn nghề nghiệp có thể tự sinh sống được. Không biết các em sẽ đi về đâu? Có được gặp người thân của mình không? Có sinh hoạt với Hội Thánh địa phương không? Có còn nhớ mình đã từng ở trong Cô Nhi Viện không? Biết bao nhiêu câu hỏi được đặt ra mà không thể nào trả lời được, và từ đây tất cả gần 400 cô nhi phải bắt đầu một cuộc sống mới đầy khó khăn và thách thức tại gia đình và xã hội. Nhưng trong chương trình của Đức Chúa Trời mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Ngài, chúng ta tin chắc rằng, Đức Chúa Trời sẽ đoái thương và vùa giúp các em như lời Chúa có chép: “Khi cha mẹ từ bỏ con thì Đức Giê-hô-va sẽ tiếp nhận con”“Nhưng, Chúa đã thấy rồi! Chúa đoái đến nỗi khốn khổ và đau đớn, Ngài xem xét để ra tay hành động. Người khốn khổ phó mình cho Chúa, Ngài là Đấng giúp đỡ kẻ mồ côi” (Thi thiên 27:10; 10:14).

Tháng 6/1976, Chính quyền giải tán Cô Nhi Viện. Số cô nhi còn lại, nếu còn nhỏ thì cho làm con nuôi, nếu lớn (14 tuổi trở lên) thì đi làm lao động tại các Nông Lâm Trường. Chỉ còn lại ngôi nhà thờ và ký nhi viện được phép sử dụng mà thôi (gia đình MS. Trần Trọng Thục, MS. Đặng Đệ, Cô Nguyễn Thị Bình ... tạm trú tại đây). Đây là thời điểm rất khó khăn cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần của số cô nhi và nhân viên còn lại ở trong Viện. Anh chị em phải tự túc sinh sống bằng mọi hình thức như: làm bánh, may đồ, may giỏ xách, trồng rau, chăn nuôi, bán dừa và bán các đồ lưu trữ trong kho vì không có nguồn tiếp trợ; lúc bấy giờ có TĐ. Lưu Văn Giáo, Cô Nguyễn Thị Bình gắn bó với các cô nhi và sinh hoạt chung trong Nhà thờ Cô Nhi Viện.

Đến tháng 12/1978, Giáng sinh cuối cùng được tổ chức tại Nhà thờ Cô Nhi Viện. Nhà thờ Cô Nhi Viện chính thức bị đóng cửa, Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang chấm dứt hoạt động sau 25 năm tồn tại (1953–1978). Như vậy các cô nhi và nhân viên phải tự túc ra về quê quán của mình; lần lượt từ các tỉnh Bắc Miền Trung đến Nam Miền Trung, vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Số cô nhi ra về lần này đàng hoàng hơn và đảm bảo chắc chắn hơn vì có gia đình vô nhận về, hơn nữa tình hình xã hội lúc này đã ổn định hơn nhiều. Kể từ đây, với 875 trẻ mồ côi được nuôi dưỡng trong suốt 25 năm qua và hơn 100 nhân viên thì Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang chỉ còn là hình ảnh trong ký ức của một thời trẻ thơ mà thôi, nhưng nó vẫn là một dấu ấn, một kỷ niệm về lòng yêu thương và lòng nhân ái, không thể nào phai mờ được.

Từ năm 1978, đối với các cô nhi ra Viện trước tháng 4/1975 thì dù sao đi nữa cuộc sống vẫn dễ dàng hội nhập với xã hội hơn vì đã trưởng thành rồi, nhưng đối với các cô nhi từ 3 đến 14 tuổi, thậm chí có nhiều em nhỏ tuổi hơn thì việc hội nhập với gia đình, với Hội Thánh, với xã hội phải phấn đấu cực kỳ để mưu sinh, phải cố gắng hết sức mình trong học hành để thành đạt và phải gắn bó mật thiết với Hội Thánh để được nâng đỡ đời sống tâm linh. Cho nên một số cô nhi đã thành danh trong xã hội như giáo sư, kỹ sư, bác sĩ; một số khác là những chấp sự, truyền đạo, mục sư trong Hội Thánh, và một số cô nhi có điều kiện được sinh sống ở nước ngoài. Một gia đình 875 thành viên là anh chị em không cha không mẹ được liên hệ trong huyết Chúa Jêsus, trong sự nuôi dạy và cùng lớn lên trong Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang sau khi ra Viện mỗi người mỗi ngã từ Quảng Trị đến Cà Mau và Nước ngoài. Dù ở đâu Chúa vẫn là “Cha của kẻ mồ côi”, Ngài chăm sóc tạo mọi cơ hội để mỗi cô nhi tiến thân theo vốn sẵn có mà Viện đã trang bị về văn hóa, về đạo đức Cơ Đốc, về một số nghề nghiệp được huấn luyện.

Lời Chúa phán: “Người đàn bà còn quên cho con mình bú nhưng Đức Chúa Trời không bao giờ quên”, thật Đức Chúa Trời không hề quên những đứa con của mình. Lần này Đức Chúa Trời lại dự bị một con người – Cô TĐ. Nguyễn Thị Bình – nguyên là cô nhi thời kỳ đầu tiên sau khi ra Viện năm 1963 cô đã học và tốt nghiệp trường Thần Học Viện Nha Trang, năm 1971 cô trở lại làm nhân viên của Viện. Sau tháng 4/1975, Cô ở lại Viện đến tháng 12/1978, có thể nói rằng Cô là người gắn bó với Viện lâu năm nhất, Cô biết rất nhiều cô nhi và nhiều cô nhi biết Cô. Cảm tạ ơn Chúa! Cô Nguyễn Thị Bình được Chúa sử dụng với ân tứ đặc biệt là tìm kiếm, nối kết và thông công các cô nhi lại với nhau. Trong suốt thời gian dài từ 1978–2008, Cô cùng các cô nhi tìm đến nhau thăm hỏi, nâng đỡ, chia sẻ gánh nặng cho nhau và sinh hoạt thông công với nhau để nhớ lại những kỷ niệm ngày xưa trong Viện tại rất nhiều nơi như: Nha Trang, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Ban Mê Thuộc, Lâm Đồng, Bình Thuận, Cần Thơ, Đồng Tháp... Nhất là qua các kỳ Hội đồng Bồi linh của từng tỉnh, các cô nhi được gặp nhau và tổ chức họp mặt chung trong tình yêu thương của Chúa và từng bước có sự nối kết thông công mật thiết với nhau.

Sau một thời gian dài từ 1978–2011, anh chị em cô nhi luôn luôn mong chờ có ngày được gặp mặt chung với nhau để ôn lại những kỷ niệm đẹp khó quên trong đời. Cảm tạ ơn Chúa! Ngày 14/6/2011, nhân lễ Kỷ niệm 100 năm Tin lành đến Việt Nam được tổ chức tại Đà Nẵng, anh chị em cô nhi có cơ hội tổ chức họp mặt với chủ đề: Họp mặt liên hoan cựu học sinh Trường Bết-lê-hem. Thật là cảm động và lần đầu tiên sau bao nhiêu năm xa cách được gặp mặt nhau toàn thể từ Quảng Trị đến Cà Mau, từ thế hệ cô nhi đầu tiên đến thế hệ cô nhi sau cùng, đặc biệt có sự hiện diện của MS. Lưu Văn Giáo, TĐ. Nguyễn Thị Bình, MS. Nguyễn Hữu Thiện... là những huynh trưởng của cô nhi, Quý thầy cô và nhân viên của Viện cũng tham dự chung vui với nhau. Kể từ đây anh chị em cựu cô nhi có sự nối kết thông công mật thiết với nhau trong tình yêu của Chúa Cứu Thế Jêsus.

Để tiếp nối buổi họp mặt của cựu cô nhi tại Đà Nẵng, theo ý kiến đóng góp cần phải có buổi họp mặt đông đủ hơn, quy mô hơn và tổ chức thành lập các ban liên lạc cựu cô nhi đến từng Tỉnh Thành, qua đó đề ra các phương án hỗ trợ chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau cả đời sống tâm linh lẫn cuộc sống gia đình, đồng thời định hướng trong tương lai gây dựng các quỹ và hoạt động từ thiện xã hội. Ngày 15/6/2012, tại Nhà thờ Tin Lành Vĩnh Phước Thành phố Nha Trang đã tổ chức họp mặt toàn thể cựu cô nhi, Quý thầy cô, Quý nhân viên với chủ đề: Cảm tạ và phục vụ; Với câu gốc Thi thiên 52:9, MS. Phan Văn Cử, Ủy viên Tổng Liên hội đã giảng Bồi linh thật phước hạnh và đầy ý nghĩa; cũng trong cuộc họp mặt này đã bầu ra Ban Đại diện cựu cô nhi gồm các anh chị: Nguyễn Lương Tâm, Nguyễn Ngọc Minh, Đặng Thị Bạch Hà, Đinh Văn Ba và Nguyễn Tấn Hậu, đồng thời quyết định vào tháng 6/2013 tổ chức lễ kỷ niệm 60 năm thành lập Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang.

Ngày hôm nay, chúng ta  kỷ niệm 60 năm thành lập Cô nhi viện và tri ân các bậc tiền nhân đã có công kiến lập và nuôi dưỡng chúng ta từ thuở ấu thơ. Cầu xin Chúa dạy dỗ và nhắc nhở mỗi chúng ta rằng: “Và đối với anh em, đó sẽ như một dấu ấn trên tay, một kỷ niệm giữa hai mắt để cho luật pháp của Đức Giê-hô-va ở trên miệng anh em; vì Đức Giê-hô-va đã dùng cánh tay quyền năng đem anh em ra khỏi Ai Cập.” (Xuất Ê-díp-tô ký 13:9).

III. KẾT LUẬN:

60 năm Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang không phải là dài so với một tổ chức, một cơ quan nhưng cũng không phải là quá ngắn so với cuộc đời một con người, đủ để cho chúng ta nhìn lại nhận biết rằng: Đức Chúa Trời là Cha chúng ta, đã yêu thương chọn lựa nuôi dạy chúng ta từ thuở còn ấu thơ và cho đến nay Ngài vẫn còn quan phòng, tể trị và hướng dẫn cuộc đời chúng ta vì “Đức Chúa Trời yêu ai thì Ngài yêu cho đến cuối cùng”. Vậy thì, vì cớ gì mà chúng ta lại không yêu thương nhau? Chúng ta đã cùng ăn chung, ngủ chung, chơi chung, cùng học một thầy, một trường chung, đi Nhà thờ chung, nhưng trên hết là có một người Cha chung luôn luôn dành những gì tốt nhất cho con mình như: “Phượng hoàng xòe cánh sớt con mình”, như: “Gà mẹ túc con”

  Nhìn lại quá khứ và định hướng tương lai là mục tiêu cơ bản cho sự nối kết 60 năm Cô Nhi Viện Tin Lành Nha Trang, là ý thức và trách nhiệm của mỗi chúng ta ngày hôm nay. Hãy tận dụng thời giờ còn lại của đời mình vì nói như lời của một nhạc sĩ: “Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ”. Ước mong mỗi chúng ta ngồi đây sẽ được gặp nhau trên Thiên quốc và chắc chắn sẽ được gặp cụ MS. Lê Văn Thái để được Chúa khen ngợi: “Hỡi đầy tớ ngay lành và trung tín kia, được lắm! Hãy đến và hưởng phước của Chúa ngươi.”

Trân trọng kính chào!
Cựu cô nhi PHAN THANH (Sưu tầm, tổng hợp và biên tập)

Viết ý kiến

Tên bạn:


Ý kiến của bạn: Lưu ý: không hỗ trợ HTML!

Bình chọn: Xấu            Tốt

Nhập mã kiểm tra vào ô bên dưới: